Hiển thị các bài đăng có nhãn tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tùy bút. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Vài phút phiêu du trong ngày tuyết lượn


Theo hoạch định, sang tháng Ba, vào các ngày thứ Bẩy cuối tuần, tôi sẽ rời khỏi nhà ra ngoài làm vài công chuyện nhỏ.
Bản ‘dự thảo việc ngày thứ Bẩy’ chẳng ngờ hôm nay gặp ngày tuyết buông, nên đành ngồi nhà nhâm nhi ly cà phê và nghĩ về vài kỷ niệm những ngày phiêu du trên đất khách.
Hình như những chữ “đất khách, quê người” dùng để nói đến một nơi xa lạ, khác hẳn
những chữ “quê hương, bản quán”. Vài chục năm về trước, một người xa khỏi làng xóm, tỉnh thành mình ở, đến sống tại một nơi khác- dẫu là tỉnh thành gần bên- người đó cũng nghĩ là sống nơi đất khách, quê người. Thường đó là cảm nghĩ của những kẻ gọi là dân giả (dân thường). Còn với các thi sĩ, nhạc sĩ – những kẻ có tâm hồn rất đa cảm- họ cảm nhận ra sao ?
Ngồi nhớ lại những kỷ niệm trên đất khách, chợt nhớ đến một bài thơ của thi sĩ Nguyễn Bính. Nhà thơ Nguyễn Bính đã từng thấm thía cảnh sống nơi đất khách quê người trong một chuyến viễn du xứ Huế. Chẳng may cho thi sĩ và người bạn cùng chuyến đó, hai người đến thăm Huế đúng vào những ngày sông Hương, núi Ngự ... mưa “cứ kéo dài ra đến mấy ngày”, và “thu về lại giở gió heo may”.
Xin trích một đoạn ngắn, thi sĩ kể lại:
... “ Chúng tôi hai đứa xa Hà Nội
Bốn tháng hình như kém mấy ngày
Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh
Để rồi nằm mốc ở nơi đây.

Thuốc lào hút mãi người ra khói
Thơ đọc suông tình hết cả hay”

Bài thơ “Giời mưa ở Huế” là một trong những thi phẩm hay của Nguyễn Bính. Hay, không chỉ nói đến một địa danh nổi tiếng như Huế. Từ xưa đến nay, nhiều người đã biết, Huế đã được nhiều văn, thi, nhạc sĩ viết về Huế rất hay rất tình... Thế nhưng bài thơ Giời mưa ở Huế lại mang nét đẹp riêng, nồng đượm tâm tình và cảm xúc riêng tư rất đặc biệt, chứa chất mối băn khoăn phong trần của kẻ lữ thứ. Có ai đó từng nói: kẻ làm nghệ thuật tài giỏi là kẻ đã để lại trong trí nhớ người thưởng ngoạn những hình ảnh không phai mờ về tác phẩm đã có... Nguyễn Bính với thi phẩm Giời mưa ở Huế, thật sự đã làm nhiều người mãi mãi nhớ về Huế. Người ta nhớ đến một nhà thơ nổi tiếng đã gắn bó với Huế trong những ngày mưa ở Huế, buồn làm sao nhưng cũng làm xứ Huế thêm đáng yêu, bởi những ngày có “mưa trên xứ Huế...”
Là nhà thơ sinh trưởng ngoài Bắc, Nguyễn Bính cùng bạn ông lãng du và giang hồ đến miền Trung, đến xứ Huế. Và hai kẻ lữ thứ xa nhà bị kẹt vì mưa “cứ kéo dài ra đến mấy ngày”. Câu thơ được nhắc đến bốn lần trong thi phẩm, làm kẻ nào chưa biết đến “mưa trên xứ Huế” cũng cảm thấy nao lòng. Bài thơ có những nét buồn ẩn hiện, nhưng bên cạnh đó, hình ảnh thi nhân và người bạn đồng hành lử thử lúc đó:
“Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ
Đôi lòng hòa một vị chua cay
Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ
Cha mẹ
chiều chiều... con nước mây ”

Hình ảnh được nhà thơ ghi nhận cùng những uẩn khúc trtâm hồn hai kẻ xa nhà thật đáng cảm động. “Giời mưa...” có lẽ chỉ là cái cớ để Nguyễn Bính trải bày nỗi lòng trắc ẩn. Với nhiều văn, thi, nhạc sĩ tài danh, hình ảnh thiên nhiên và cảnh trời đất chỉ là cái cớ, một cái ‘phông’ nhiều mầu cho tác phẩm của họ.
Hình như rất ít thấy các nhà thơ dùng đến chữ “Giời” như nhà thơ Nguyễn Bính. Trong bài thơ đã trích dẫn, thi sĩ dùng phương ngữ nơi ông sinh trưởng. Dân ngoài Bắc, lúc gặp cảnh chẳng như ý, thường than vãn, kêu: “Giời ơi ! ”, hoặc: ”Giời ạ ! “ .
Thưởng thức những nét đáng yêu trong thi phẩm Giời mưa ở Huế của Nguyễn Bính, người ta còn thấy nhiều câu thơ giá trị về nghệ thuật, nói theo cách nói của vài kẻ làm thơ là “rất xứng quan tiền, thúng gạo !”. Một bạn thơ góp đôi lời với tôi và anh nói thêm, có thể là, một bài thơ hay thì mỗi thời người ta cảm mến thêm vẻ lấp lánh ẩn hiện trong dòng thơ của thi sĩ.

 ... Trong Giời mưa ở Huế còn có câu thơ phảng phất chất danh ngôn, như:
Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo

Cả đến ông giời cũng đổi thay !”

Nói theo ngôn ngữ thời hậu hiện đại lúc này thì nhiều sự thể có khi bất ngờ thay đổi, chẳng ai biết trước, vì “Cả đến ông giời cũng đổi thay !”

Đoản tuỳ bút viết theo dòng cảm hứng và cũng chẳng theo một đề tài nào- như trong một cuốn tự điển định nghiã về thể văn tuỳ bút- xin tạm ngưng nơi đây. Hẹn gặp lại qúy bạn gần xa từng gần gụi với trang nhà  Sổ Tay Văn Nghệ vào những ngày nhiều nắng, khi các khóm thủy tiên nở những bông nhiều mầu tươi tắn.

Vân Võ Hoài Phương

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

MỘT CHIỀU BÊN SÔNG SÀI GÒN ( 3 )


MỘT CHIỀU BÊN SÔNG SÀI GÒN ( 3 )


  Dòng người đứng đợi trước cửa soát vé để vào sân ga nhúc nhích và chuyển bước theo từng đợt ngắn. Và sau cùng, chúng tôi- gồm chị tôi, anh rể và tôi- vào được trong sân ga, tìm ra toa hàng khách theo vé ghi và lên tầu. Lúc này trong toa hành khách đông kín người. Tìm đến chỗ ngồi ghi trên vé thì đã có vài người ngồi trước. Mặc cho chúng tôi cầm vé và so đúng số ghế họ đang ngồi, nhưng họ vẫn ngồi yên với vẻ mặt rất thản nhiên. Chị tôi nói nhanh : ”Đây là chỗ chúng tôi ghi đúng trên vé. Mời những ai ngồi ở những chỗ này trả lại chỗ cho chúng tôi.” Bên cạnh chị tôi, anh rể và tôi còn hai người nữa cầm vé trên tay và chờ họ đứng dậy để vào nơi ghi trên vé. Tôi và anh rể chưa từng gặp tình huống căng thẳng như thế này nên chỉ đứng nhìn và chờ đợi. Vài người ngồi trên ghế thoáng đưa mắt nhìn nhau nhưng vẫn không chịu đứng lên trả lại chỗ. Chị tôi nói giọng cương quyết : “Các người không sớm tìm đúng chỗ. Đây là ga đầu, thể nào lát nữa cũng có nhân viên đường sắt đến kiểm soát vé.” Chẳng ngờ câu nói của chị tôi khiến tình hình thay đổi ngay tức khắc. Đám người ngồi nhầm ghế vội vã đứng dậy, nhanh chóng lôi ra từ gầm ghế ngồi các thứ đồ lỉnh kỉnh của họ và chen lấn những người đứng quanh, tìm đến nơi khác.

Anh rể ngồi xuống nơi số ghế của anh và mỉm cười :”May mắn là hôm nay trưởng nhóm ra chiêu rung cây, nhát muỗi chứ không còn là mệt với cái đám vừa rồi.” Ông khách vừa lấy lại chỗ ngồi gần bên tôi, cười : “Đôi lúc có kẻ vẫn thấp cơ thua trí đàn bà đấy. Cám ơn mấy lời đanh đá đúng lúc đúng chỗ của chị”.

So với tính tình nhiều phụ nữ cùng lứa tuổi chị tôi ở thời đó, chị không hẳn là loại người đanh đá. Khi gặp chuyện chẳng lành, chị không nói nhiều lời và lúc chị đã nói những lời chắc như đinh đóng cột, phân tích rõ ràng những phải, trái thì chẳng ai lay chuyển được chị. Từng trải trong giao thiệp thường ngày với nhiều người trong khi ngồi bên sạp hàng bán vài thứ hàng hóa thời đó gọi là hàng hóa phục vụ dân sinh, ít nhiều chị cũng biết và hiểu nhiều những tình huống vẫn thường xảy ra. Rất ít người bạn quen của chị bây giờ biết được rằng, chị và bốn anh em chúng tôi lẽ ra mỗi người được thừa hưởng một nhà xây do những năm dài bố mẹ làm lụng để có được, sau này chính quyền mới niêm phong và một thời dùng làm trụ sở hành chính khu phố. Sau những năm tháng đó, đời sống người dân mỗi ngày một khó khăn hơn và nghèo khổ hơn. Nồi cơm của nhiều nhà đã nhìn thấy độn khoai, độn sắn. Những chiếc loa phóng thanh với công suất lớn chĩa thẳng về hướng xóm, nhà và nói ra rả đến tận đêm khuya.

 

   ... Đoàn tầu chuyển bánh rời ga chính chừng mươi phút thì chị tôi mở một túi đem theo lấy ra một lọ muối vừng, và một túi đựng cơm nắm. Chị nói : “Những chuyến đường xa, chỉ có cơm nắm, muối vừng và nước đun sôi là tốt nhất. Ăn uống theo cách này, hai ba ngày cũng không chết !”.

Những năm đầu thập niên 80, nhà nào ở miền Bắc mà có cơm trắng ăn thì đã thuộc loại khá. Tối hôm trước, khi anh rể và tôi ngồi nhẩn nha uống cà phê trong một tiệm gần một đường rẽ đến bờ hồ thì bà chị họ và chị tôi ở nhà rang muối vừng và làm vài nắm cơm trắng để chị tôi đem theo trên chặng đường xa.

Anh rể nhìn nắm cơm và lọ muối vừng, chợt nói khẽ :”Đến Hà Nội, hai anh em tôi xơi được một bữa cơm chỉ trỏ, quả thật là mãn nguyện !”

Chị tôi đưa mắt nhìn anh rể. À, thì ra ‘hai con nhà giời’ này đã rủ nhau đi ăn mảnh ! Ánh mắt chị tôi thoáng vẻ nghi ngờ. Chị hỏi : “Cơm chỉ trỏ lúc này có mấy món ?  Anh có gặp lại cô bán cơm ngày trước không ?”

Đương nhiên là anh rể, như người ta vẫn nói trong tình huống này, với vẻ mặt tỉnh bơ của kẻ ngoài cuộc :”Nghe nói, cô nàng dễ thương này đã lên xe hoa từ vài tuần trước. Tôi chỉ nhớ đến nồi cơm nóng hổi và vài món ngon thôi chứ không nhớ người. Mấy gánh cơm chỉ trỏ ở bên kia đường ga Hàng Cỏ ngon thật. Còn cô chủ gánh cơm ngày trước...”. Chị tôi nhìn anh rể với một vẻ quan tâm đặc biệt. Còn anh rể, tránh nhìn ánh mắt chị tôi, giọng nửa đùa nửa thật : “Nói ra lúc này có mà chết à ?!”...

....

**********************

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Một Chiều Bên Sông Sài Gòn ( 2 )


Một Chiều Bên Sông Sài Gòn ( 2 )



  Nhờ chuyến vào thăm Sài Gòn ngày ấy nên tôi được nhìn tận mắt nhiều quang cảnh hiếm có và lạ lẫm. Quãng chừng một giờ trước khi chuyến tầu từ Ga Hàng Cỏ chuyển bánh về phía Nam, trước cửa sân ga đã có rất đông người với hành lý đem theo, và nhìn dáng vẻ nhiều người, dường như ai cũng ít nhiều bồn chồn, lo lắng. Vài chiếc xe xích lô chở và chất đầy hàng hóa vội vã lướt trên đường nhựa và lượn vòng vào trước sân ga, tìm một khoảng trống đỗ lại dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn điện trong sương sớm. Trước cánh cổng sắt lớn bên cạnh cửa sân ga là những người buôn hàng chuyến, với những chiếc xe kéo hai bánh (loại xe một thời gọi là xe cải tiến); cùng với hàng hóa chở đầy trên chiếc xe nhỏ, cùng với nhiều lồ, sọt đựng các loại lâm sản, thổ sản chuyển từ miền ngược chuyển về. Bầu trời lúc này chưa sáng hẳn, cái lạnh sớm mai còn thấm qua lần áo mỏng nhưng những người buôn hàng chuyến không nao lòng đứng chờ trước cánh cổng sắt chưa mở, sức chịu đựng của họ tưởng chừng vô biên, vì chỉ chừng nửa giờ sau, khi cánh cổng vừa kịp hé mở thì đoàn người ồ ạt bước tới không một sức mạnh nào ngăn nổi. Thoáng qua không đến vài phút, dòng người với xe kéo, với gồng gánh thúng mủng và với những tiếng kêu, tiếng gọi vội vã khuất dần sau chiếc cổng. Đã có một thời, để sống còn và nuôi nổi gia đình, nhiều người dân sống ở vài vùng phía Bắc đã quen sống với nhiều nỗi vất vả nhọc nhằn đường xa như những người đã đợi chở trước chiếc cổng sắt bên sân ga.

Chị tôi, anh rể và tôi cùng thức dậy vào quãng 3, 4 giờ sáng để sắp sẵn hành lý. Sau đó được người nhà ở Ngã Tư Sở có quen biết một ông làm nghề xích lô sống gần đó, hẹn trước lúc 4 giờ sáng đến đón và chở 3 người ra ga xe lửa.

Anh rể và tôi, sau bữa cơm chiều hôm trước, vào lúc 5, 6 giờ chiều, hai chúng tôi lang thang trên vài đường phố Hà Nội mãi tới tận khuya mới về nhà bà chị họ, nơi ở tạm hai ngày để có sức đi xa. Lý do không thể về sớm bởi vì nhà chị họ của anh rể là một nhà nhỏ hình ống, gồm 3 tầng nhưng diện tích mỗi tầng chỉ rộng hơn chiếc gường đôi một chút. Tầng dưới cùng, từ cửa bước vào có đặt chiếc sập gụ gỗ mầu nâu sẫm, bên cạnh có lối đi nhỏ dẫn đến cầu thang bằng gỗ để lên tầng trên. Tầng hai, sàn bằng gỗ. Nhìn thoáng qua thấy có trải chiếu hoa và chăn, màn. Chắc hẳn nơi đây là nơi ngủ và nghỉ ngơi của chủ nhà; còn bên tường lối lên tầng ba là chiếc thang bằng gỗ hẹp. Trước đây, tôi có vài dịp đến Hà Nội, nhưng thường chỉ nhìn những nhà hình ống từ phía ngoài, khó thể tưởng tượng nổi với chiều dài mỗi bức tường chỉ hơn 2 mét, người ta thiết kế và làm được một nơi ở trông đàng hoàng đến vậy. Tối hôm đầu tiên đem hành lý của 3 người đặt vào dưới gầm chiếc sập gụ nơi tầng một, bà chị họ nhìn anh rể và tôi, cười nói: “Để hai thanh niên này lên tầng ba, ngủ cho khỏe. Nhưng mà bước lên bước xuống nhẹ nhàng thôi. Cái cầu thang này ông nhà tôi làm không được chắc chắn lắm, nhỡ chân bước hẫng là dễ lăn xuống chân thang. Còn nữa, đã ở nhà ống thì ăn uống cần phải cẩn thận, đang đêm bỗng bụng dạ sôi lục bục thì cũng phiền lắm”. Chị tôi chợt hỏi : “Còn anh nhà, đêm nay ngủ đâu?”. “Tôi với thím, ngủ ở tầng hai. Còn ông nhà này, đêm nay cho ngủ một mình một tầng, riêng một sập gụ. Tha hồ mà ngáy. Này, thím chưa biết đấy. Có đêm ông ấy ngáy rung cả cái nhà ba tầng. Người ta bảo ghét của nào trời trao của ấy. Tính tôi lúc ngủ không thích ai nằm bên cạnh ngáy. Vậy mà cái duyên cái số, lấy phải ngay ông nhà này, hễ đặt lưng xuống là ngáy rung cả giường, rung cả sập gụ. Một đêm, tôi đang ngủ ngon, bỗng chợt tỉnh dậy, nghe tiếng ông ngáy như kéo gỗ trên ngàn. Rồi một lúc sau, thím có biết ông hát bài gì không? Một bản tân nhạc ông thích từ ngày còn trẻ : “Ở chợ Dầu có cô hàng cà phê. Cô hay cười, hồn xuân phơi phới. Cứ trông dáng người, mới chừng đôi mươi...”. Chị tôi có ý ưa thích tính hay bộc bạch của bà chị họ, nói liền: “Vài câu hát này đúng là hình ảnh của chị ngày trước. Nghe nói ngày hai người mới quen nhau, anh nhà mê chị còn hơn mê cái tiệm cà phê của chị. Có đúng không?”. Bà chị họ cười hehe : “Đã là trai, mà gái không mê, cà phê không biết uống thì hỏng !”.

Sau bữa cơm chiều, anh rể và tôi lang thang trên vài phố nhỏ bên bờ hồ tìm một quán cà phê. Khi rẽ vào đường phố nhỏ cách một dãy nhà, nơi góc đầu dãy nhà có treo chiếc bảng hiệu dài với những chữ “Cửa hàng bách hóa tổng hợp”, hai chúng tôi chợt nhìn thấy một tiệm cà phê ở gần quãng đường lượn. Người ta dễ dàng nhận ra ‘bản sắc’ một tiệm cà phê đích thực qua mùi thơm quyến rũ của ly cà phê ngon, hay qua gương mặt của những khách uống trong một quán cà phê hấp dẫn. Và nơi tiệm cà phê, anh rể và tôi ngập ngừng lạ lẫm  bước vào tối hôm ấy, cả hai chúng tôi bỗng cảm thấy vừa quen vừa lạ. Ngay gần cửa bước vào tiệm là một dãy bàn và ghế nhỏ đặt sát tường. Mỗi bàn chỉ có hai ghế để gần và bên cạnh chỉ còn một lối đi vừa một người bước. Quầy pha cà phê ở phía trong. Một bên tường treo các bức tranh cỡ vừa nhưng thật khó tìm thấy các bức tranh loại này trong các tiệm cà phê nơi thành phố khác. Một không gian phảng phất đôi chút nghệ thuật, vài khách ngồi vừa nhâm nhi ly cà phê vừa thoáng ngắm nhìn một, hai bức tranh treo trên tường gần nơi ngồi. Tiệm cà phê tuy nhỏ và một tách mầu [cà phê sữa] trông gọn nhỏ, ít ỏi nhưng làm ấm lòng người giữa đêm khuya...

Anh rể và tôi, đêm hôm đó ngủ trên tầng ba và trăn trở mãi không sao ngủ được. Cái gác nhỏ tuy chắc chắn, nhưng anh và tôi nằm nghe tiếng gió lùa qua khung cửa sổ nhỏ nơi đầu hồi nhà và thao thức đến sáng.

....

( còn tiếp )

Vân Võ Hoài Phương

**********************

 

 

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Một Chiều Bên Sông SÀI GÒN ( 1 )

Một Chiều Bên Sông SÀI GÒN ( 1 )


Bỗng nhiên, có một hôm, vào giữa một trưa nắng nóng, tôi đứng bên lối ra vào của Ga xe lửa Sài Gòn với vài túi xách du lịch.
Thoạt nghe tới “bỗng nhiên”, có thể ai đó ngỡ tôi nói một chuyện ‘mơ hão’! Đâu có chuyện bỗng nhiên hoặc tự dưng, khi mà một ‘phó thường dân’[những dân thường không cơ quan, xí nghiệp / những ai làm nghề tự do] từ miền Bắc, từ một vùng duyên hải Bắc bộ, lại- “bỗng nhiên” một nắng trưa nào đó, đứng ngẩn người ra trước Nhà Ga xe lửa chính của Sài Gòn?
Quả thật trước đó một tuần, tôi vẫn còn bận rộn với vài việc của khách đến đặt hàng; khi thì quấn lại dây chiếc quạt bị cháy, lúc sửa qua cái tăng điện nhỏ dùng trong nhà... Việc lúc có lúc không, vì thời đó, thường từ chiều tối, các nhà dân mới có điện dùng, đời sống cũng chỉ tạm có chút ít tiền để sống qua ngày, đâu dám mơ tưởng có một ngày đẹp nắng đến Sài Gòn để nhìn ngắm Sài Gòn- “Hòn ngọc Viễn đông”- như người ta thường nói.
Vào thời điểm những năm đó (khoảng 1981-1982), nhiều dân nghèo thành thị phiá Bắc, đời sống hàng ngày nhiều lo toan với những ’sổ gạo, sổ mùn’; có khi xà-phòng thơm hoặc vài bao diêm cũng bán theo ô phiếu. Các cửa hàng mậu dịch quốc doanh thường lèo tèo vài thứ hàng ế ẩm, lúc có thứ hàng dân cần thì cảnh tượng thường thấy là chen lấn, cãi cọ, xô đẩy và ‘rồng rắn’ xếp hàng dài dằng dặc. Người ta thường nói, cái khó bó cái khôn; và ngẫm ra cái khó đôi khi cũng làm tư cách người ta chẳng còn tử tế. Thực ra, bản tính người bình thường vốn mong mọi việc đều dĩ hòa vi quí, nhưng lúc gặp thời buổi khó khăn, nhất là sống trong cảnh tranh giành, tâm địa con người chợt biến đổi. Thời đó, hình như người ta coi vật chất là thượng đỉnh trên hết mọi thứ, trên cả những thứ gọi là tình cảm và lòng tự trọng. Và vào dịp nào được “bồi dưỡng” vài cân đường, vài cân thịt, ai nấy cảm thấy hả hê như được sống nơi thiên đường.
Trong một ngữ cảnh như vậy, “bỗng nhiên” đến với tôi là đúng lắm. Nói thêm đôi chút là vào quãng vài tuần trước ngày vào thăm Sài Gòn, tôi gặp may có vài “khách sộp”, đến đặt vài thứ đồ điện dùng trong nhà, họ là dân buôn bán loại “Đài xịn ba số 7 (777), hai cửa băng”; họ chỉ cần chất lượng tốt, và không cần biết đến đắt rẻ.
Tầu hoả chạy theo tuyến đường sắt từ ga Hàng Cỏ vào lúc tinh mơ sáng hôm trước, và trưa hôm sau đến ga Sài Gòn, đến đúng vào lúc cái nóng đang hừng hực giữa trưa và thêm với cái nóng trong bầu không khí đông người. Cảnh tượng thường thấy nơi sân ga, bến tầu chẳng nói tỉ mỉ ai nấy cũng biết, hơn nữa- thời đó là cái thời người ta phải ‘nhanh nhanh, chóng chóng’. Nếu như bạn đã từng sống ở quê nhà, chắc hẳn bạn từng biết rõ khi kẻ nào nói: “Tôi đã nhỡ tầu”, thì hẳn nhiên kẻ đó thường có vẻ mặt chán chường và rầu rĩ như vừa bị người tình cho nghe câu hát “vẫy tay... vẫy tay chào nhau. Một lần đầu và một lần cuối...”


*


Tôi đặt vài chiếc túi du lịch vào sát mé tường và tạm ngồi lên chiếc túi của tôi. Những chiếc túi để bên tường gần nơi tôi ngồi trông nom hộ là của anh chị tôi đi cùng chuyến thăm. Chuyến viếng thăm Sài Gòn trong một ngày hè theo lời mời của một bạn gái với chị tôi. Hai người chơi thân cùng lớp học từ hồi còn tuổi mười lăm, mười sáu và thân thiết coi nhau như hai chị em. Sau năm 1954, bố mẹ tôi có một ngôi nhà rộng không dùng đến, nên để cho chị tôi (khi đó vừa lập gia đình) đến ở, và chị tôi liền “kéo” thêm gia đình bạn gái chơi thân với chị đến cùng ở. Người chồng bạn gái của chị tôi, anh là người có học thức và hiểu biết, hòa nhã và vui tính, đặc biệt anh coi trọng bố tôi, sự thân tình vui vẻ của anh chiếm được cảm mến của nhiều người. Anh sinh trong gia đình khá giả nhưng lúc đó thời thế thay đổi. Anh chị em chúng tôi coi anh như một người anh lớn trong gia đình. Anh sống tự lập khi mới bước vào đời và ít nhiều may mắn trong hạnh phúc, vì gặp bạn gái quen chị tôi. Có những lúc tôi tự nghĩ, tại sao có vài cặp vợ chồng (thật sự, chẳng hiểu sao, không nhiều...), họ sống gắn bó bên nhau đến vậy? Mà qua nhiều năm khó khăn rồi rất khổ ải, mà họ vẫn vui vẻ sống được và nuôi nổi đàn con như vài gia đình tôi đã biết. Với tôi, dù nhiều dù ít, anh là một người biết sống, từng trải và một điều thỉnh thoảng tôi nghĩ đến là, làm thế nào anh có thể dung hòa với rất nhiều người như tôi biết? Trong khi thời thế thường luôn thay đổi, nhân tình nhiều lúc chẳng đơn giản chút nào... Vào những năm thỉnh thoảng tôi có dịp gặp anh, tôi nhận thấy tình cảm thân thiết, kính trọng của nhiều người dành cho anh, hẳn đã nói lên một điều rất khó định nghĩa. Có thể anh học được một mghệ thuật sống mà ít người theo học được chăng?
Hai tổ ấm gia đình tôi vừa kể trên ở trong nơi nhà của bố tôi có lẽ ở được vài năm, sau đó cả hai gia đình chuyển đến nơi khác. Chị tôi chuyển sang buôn bán nhỏ; còn gia đình bạn gái chị tôi, nghe nói hai anh chị mở một xưởng cơ khí và mua thêm vài máy hàn, máy tiện. Nơi xưởng cơ khí cũng gần nơi nhà bố tôi ngày trước.
Bẵng đi nhiều năm, tôi ít khi nghe tin về gia đình bạn thân với chị tôi. Bỗng một hôm, (trước ngày vào thăm Sài Gòn), tôi còn lúi húi với vài việc trong cái tiệm sửa đồ điện rộng chỉ chừng vài mét vuông thì chị tôi đến, báo tin vui gia đình bạn thân của chị đã chuyển vào Sài Gòn từ vài năm trước, và mời anh chị tôi và anh em trong nhà, ai có rảnh rỗi vào thăm. Chị tôi nói: “Cậu nên đi chuyến này để biết đó biết đây!” Lúc đó tôi nghe nói qua, hình như gia đình bạn thân với chị tôi có thân quyến di cư vào Nam 1954, nay được người nhà bảo lãnh nên ra đi và để lại ít nhiều gia sản... Bởi thế, nên anh em trong nhà vào thăm cũng không có vấn đề gì lo lắng về ‘kinh tế’. (Ai cũng biết, thời đó, nói ‘kinh tế’, bao gồm rất nhiều thứ, như cơm áo gạo tiền, nơi ăn chốn ở...)
... Tôi ngồi đợi anh rể và chị tôi vừa vội mải chạy quanh đâu đó, có lẽ anh chị tìm nơi có nước sạch để nhúng chiếc khăn lau mặt lúc này đã khô quăn. Mới có hơn một ngày ngồi trong toa tầu, người ngỡ nóng đến phát sốt. May mà tôi ngồi bên cửa sổ, hơi thoáng một chút khi tầu chạy, nhưng khi tầu dừng, đỗ ở ga nào, lại cứ lo ngay ngáy. Lúc tầu chưa dừng bánh hẳn, tiếng phanh bánh vẫn còn nghe thấy, thì đột nhiên quang gánh, rồi đòn gánh bay tới tấp bên cửa sổ, ai ngồi kề cửa sổ không kịp né, chẳng còn biết số mạng sẽ như thế nào. Cửa sổ của tầu cao đến vậy, thế mà nhiều đàn bà, con gái leo lên phăm phăm (có lẽ ở bên cạnh đường ray có người nâng, bồng...). Và thế là tiếng gọi nhau ơi ới, chẳng còn biết ai nói ai nghe. Vài người vừa trèo qua thành cửa sổ, vừa lôi quang thúng, vừa dẫm đạp lên vai lên đầu lên cổ những người trong toa tầu. Ông anh rể tôi, vốn tính rất nhát đàn bà, bị một bà ‘to đùng bát vại’ mới leo được nửa người bên thành cửa sổ, túm được đúng đầu, bà này cứ ôm chặt ông anh rể không rời, thôi thì... lúc này... má kề má, môi kề môi! Lúc đó, tiếng còi tầu hối hả vang lên, bà kia, hai cánh tay to lực lưỡng càng ôm chặt ông anh rể... Sau này, chị tôi kể lại cho bạn chị nghe chuyện này, ông anh rể tôi chỉ ‘bình luận’: “Không ngờ bà ta khỏe thật, càng gỡ tay bà ta ra, thì bà ấy lại càng ôm chặt lấy mình! Ôm chặt hơn ôm người yêu.” Chị tôi nói: ”Thôi, ông đừng khéo vờ. Mấy khi ông được một bà thứ hai ôm hôn nồng thắm như thế. Mà bà này lại là một bà vừa to vừa khỏe. Thích thì thôi!”…
….
(Mời xem tiếp..)
V. V. H. P
********************

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Vaì Doǹg Văn Nghệ Phương Xa ( 3 )

“Người Tình Mùa Đông”


Thời tiết mấy ngày qua nơi vùng tôi hiện ở có vẻ rất dễ chịu. Sáng ra thức dậy đã nhìn thấy ánh nắng mặt trời chiếu qua khung cửa nhỏ, và mãi tận cuối chiều, nhiều đường phố vẫn còn vương nắng. Nhiệt độ ngoài trời ban ngày chưa đến hai mươi độ C, dân xứ này hình như chẳng còn ai nhớ đến cái lạnh Bắc Âu ngày nào. Thiên nhiên nơi đây và khí hậu lúc này có vẻ như mỉm cười ưu ái với các ‘thần dân xứ lạnh’, cho dù có một, hai kẻ nghĩ xa nghĩ gần một, hai tháng tới đây thôi... khi mà những đợt gió lạnh từ Bắc cực thổi đến, chắc hẳn các ‘thần dân’ nơi đây hiểu ra rằng cảnh tuyết buông gió thổi cũng đẹp đấy, có vẻ lãng mạn và êm ái như bản nhạc trữ tình nhưng “người tình mùa đông” năm nay chưa biết sẽ dễ tính hoặc khó tính đây?
“Ông bạn” thân thiết với tôi, sau một lúc ngắm trời nhìn gió trông mây ngoài cửa sổ, buông một lời:
-Xem chừng ‘Nàng Mùa Đông” năm nay có thể mát tính. Nhưng, cẩn tắc vô ưu, cứ phải khăn len mũ ấm.
Tôi chợt thoáng nhớ đến ‘bộ đồ dã chiến’ của ông ngày nào.Tôi nói trêu ông:
-“Nàng mùa đông” lúc này trên đường đến hẹn gặp lại anh đấy. “Mùa đông năm trước, anh đã ngỏ lời với em... Mùa đông năm nay, em đến bên anh để nghe... để nghe trái tim đơn côi của anh...”
Hai mắt của ông bạn thân thiết ánh lên niềm vui, ông nói những lời như một nghệ sĩ sân khấu:
-Trái tim anh sẽ phập phồng liên hồi vì người tình giá lạnh... Nàng sẽ tặng anh một nụ cười và anh hát cho nàng nghe một bản tình ca còn hay hơn những lời của bàn Tình Ca Du Mục. Nhưng này...
Bỗng nhiên ‘ngài’ nhìn tôi, chợt hỏi:
-Người ta thường nói, những khi lẩn thẩn lại hay nói những lời thơ thẩn, có đúng không nhỉ?
-Tôi nghĩ, đôi lúc nên có vài lời thơ thẩn để tâm hồn thoáng đãng hơn. Nhiều khi tôi phải nghe thêm nhạc, đọc thêm sách để quên đi muộn phiền, bận rộn.
-Đúng rồi, hãy bỏ lại các bận rộn lo nghĩ hiện giờ. Mấy khi anh lên thăm tôi, hôm nay tôi dẫn anh đến thăm thư viện nơi tôi. Những hôm không gió không mưa như hôm nay, tôi ‘thường trực’ ở trên đó.
-Nhưng còn câu chuyện “người tình mùa đông”, chưa đến đoạn kết mà!
-“Người tình mùa đông” chắc hẳn có trái tim mùa đông. Cái vẻ giá lạnh của nàng không chừng làm nhiều chàng khó ngủ. Riêng tôi, tôi biết tính nết nhiều nàng rồi... Hình như tôi hơi lẩn thẩn, nhưng thực là...
Ông bạn thân thiết xoay xoay tách trà nóng trên tay, nói tiếp:
-Thôi, chuyện những trái tim mùa đông để nói sau. Với tôi và anh, thư viện có các niềm vui hơn nhiều. Nào ta đến thư viện.
*
Trên đường đến thư viện với ông bạn thân thiết và vui tính, tôi chợt nhớ lại thời tôi mới đến định cư nơi vùng đất này. Sau các giờ học tiếng ở trường di dân ra về, tôi thường la cà vài giờ trong thư viện. Và chính ở nơi có những dãy kệ sách báo, tôi gặp gỡ vài người, qua vài câu thăm hỏi lúc đầu, mối thân tình giữa chúng tôi trở nên thân thiết.
Dân Bắc Âu nói chung và dân xứ Thụy nói riêng, họ rất coi trọng việc đọc sách, báo. Do đó, thói quen và sở thích đến thư viện gần như trở nên một tập quán tốt trong xã hội. Tỉnh, thành phố, hoặc một làng xa có vài trăm gia đình cũng có thư viện dù to hay nhỏ. Các thư viện thường được xây dựng, chăm sóc và bảo quản ở mức tốt nhất. Thư viện là nơi cần thiết và có nhiều tiện ích với tất thảy các tầng lớp trong xã hội, từ người có tiềm lực kinh tế đến dân có mức sống vừa phải. Nền tảng và sự phát triển về văn hoá nơi xứ này rộng lớn trên toàn diện xã hội, và đã có từ nhiều thập niên trước.
Vào những ngày mùa đông tuyết rơi giá rét, chẳng còn gì ấm áp hơn là vào ngồi đọc sách, báo trong thư viện. Các di dân mới tới xứ này ưa thích thư viện bởi thư viện tỉnh hoặc thư viện thành phố lớn thường tọa lạc gần bến xe buýt và ga tàu điện, nên lúc chờ tàu, chờ xe vào ngồi chờ và tìm đọc vài cuốn sách, tạp chí... không còn thích thú nào hơn. Thư viện đâu đó thường khang trang, ngăn nắp, gọn gàng từ nơi rửa tay và nơi đi vệ sinh miễn phí rất sạch sẽ. Ai chưa có thẻ đọc sách, chỉ cần đưa ID-kort (thẻ căn cước ) cho nhân viên thư viện là được cấp ngay thẻ mượn sách miễn phí. Trong thư viện thường có vài kệ sách dành cho di dân với ngôn ngữ vốn có của họ...
Dân ưa chuộng cà phê hay nước giải khát có một nơi riêng ngay bên trong thư viện. Chỗ đó thường chỉ có chừng mươi bộ bàn ghế, gần đó có máy tự động bán cà phê và nước giải khát. Những thư viện lớn, bên cạnh nơi uống còn đặt thêm vài kệ báo thường ngày và vài loại tạp chí. Vài bạn thân quen với tôi thường góp mặt nơi này trong những ngày tuyết bay, gió thổi. Cái thú vừa uống cà phê vừa đọc báo, tạp chí hẳn đã có từ những ngày tháng ấy... Và bữa nay, ông bạn thân thiết có ‘người tình mùa đông’ hẹn gặp... lúc này bỗng nhìn ra một góc thiên đường có những ly cà phê và có những kệ sách, báo bên góc nhỏ trong thư viện. Hai mắt ông bỗng sáng lên như nhìn thấy một thiên đường thực sự. Bản tình ca mùa đông của riêng ông lúc này như có pha chút âm hưởng và hương vị của ly cà phê sữa. Tôi nghe có tiếng nhạc thoảng bay nơi đây...


Kỷ niệm một ngày trong thư viện bên ly cà phê với Anh ...
Vân Võ Hoài Phương

====================

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

Vài Dòng Văn Nghệ Phương Xa ( 2 )



NGHĨ XA NGHĨ XÔI ...



Với nhiều người, kỷ niệm thuở thiếu thời thường là kỷ niệm của những hình ảnh thân thương và rất khó phai mờ. Ở cái thời non trẻ đó- thời chạy nhảy tung tăng, thời nhìn trời xanh chồi biếc với đôi mắt thơ ngây- ai chẳng thấy bỡ ngỡ với đời thường, ai cũng cảm thấy cuộc sống có rất nhiều màu, nhiều vẻ. Kỷ niệm thời trẻ thơ có thể mãi còn trong tâm trí người lớn tuổi, mỗi khi họ ngồi trầm tư tưởng nhớ. Một chút hoài niệm nhớ nhung xa vời tựa như ai đó chợt ngồi nhớ đến nơi vườn xưa có mùi hương của hoa thơm và cỏ biếc. Phải chăng đây là một chút “tài sản quí giá” trong tâm tưởng của một người lúc ở ‘tuổi vàng’? Bạn nghĩ gì thêm khi biết có kẻ ví von “hương” của quá khứ với hương một bụi cây tử đinh hương lúc nở hoa như Franz Toussaint so sánh: “Quá khứ còn có nhiều hương hơn là một bụi cây tử đinh hương nở hoa”. Nhiều người sống lâu năm trên đất Pháp từng biết qua câu nói đời thường của dân Pháp: “Trẻ ước mơ; Già hoài niệm”. Vế sau trong câu nói dân Pháp đúng ý với nhiều người, bởi, dù là ai chăng nữa, cũng đôi lúc ngồi nghĩ xa nghĩ xôi, hoài niệm về một quãng đời nào đó. Nhưng với một vài người, hẳn họ không nghĩ đơn thuần và giới hạn trong hai độ tuổi già và trẻ. Nhìn nhận cách khách quan, người ta thấy, với tuổi già hay tuổi trung niên (còn có kẻ gọi là tuổi lưng chừng ), ở độ tuổi vàng và tuổi sắp vàng này không chỉ có hoài niệm mà có thể còn có cả vài ước mơ, cho dù đó là ước mơ ở mãi tận bên kia biển rộng (?).. Nói tới để thêm vui, thế nhưng quả tình chuyện ước mơ xa vời này với một kẻ vẫn còn lẻ bóng thì hẳn anh ta/ chị ta có thêm nhiều hy vọng và vui vẻ sống tiếp mặc cho ngoài trời có nổi bão tố phong ba hoặc thời giá mỗi ngày mỗi tăng tới mức ít ai biết trước.




*




Hồi tôi còn nhỏ, tôi vẫn ao ước được mẹ tôi dẫn tới nơi này nơi khác. Cũng như nhiều phụ nữ có gia đình và có đàn con còn nhỏ, mẹ tôi thường dành thời giờ chăm chút mấy anh chị em tôi. Sau này, khi chị gái và anh em tôi dần dần lớn khôn, tôi nhận biết và cảm thấy mẹ tôi dành tình cảm yêu thương với mỗi đứa con mỗi khác. Hình như tâm tính nhiều bà mẹ đời trước và đời nay thường vẫn thế, có đứa con được thương nhiều, có đứa con được bảo bọc và quý mến nhiều hơn...
Hồi đó, chị tôi và anh tôi thỉnh thoảng được mẹ tôi mua cho vài thứ đồ để mặc ăn diện trong các ngày có hội hè, lễ lạc. Còn tôi, những năm tôi gần mười tuổi lúc đó, thường vào các ngày lễ tết mẹ tôi ưa dẫn tôi theo mỗi dịp mẹ tôi về thăm quê ngoại.
Thực ra dân phố xá nơi tôi ở thời đó rất ít khi nghe họ nói đến “quê nội, quê ngoại”; có dịp nói đến quê hương bản quán, họ chỉ nói vắn tắt: “Ở quê tôi...”, hoặc: “Tết này, tôi về quê.” Còn mẹ tôi, mỗi dịp sắp sửa vài thứ mang về quê nhân ngày giỗ chạp của thân tộc, thường chỉ nói với bố tôi: “Ngày mai, ông ra ga chính mua giúp tôi một vé về Cẩm Giàng.”
Dân chúng sống nơi vùng duyên hải Bắc Việt nghe nói đến Cẩm Giàng, biết ngay đó là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, một tỉnh nhỏ nhưng có hai loại bánh đặc sản nổi tiếng nhiều người biết, đó là bánh đậu xanh và bánh gai Ninh Giang. Tuy huyện Cẩm Giàng chưa hẳn là nơi nhiều nhà làm bánh đậu xanh nhưng bố tôi xem ra có vẻ “tôn quý” hai món bánh đặc sản dân dã nơi quê vợ, nên mỗi lần mẹ tôi và tôi về quê hay lúc từ quê ra tỉnh, luôn luôn được bố tôi nhiệt tình đưa đón. Thật khó tả hết nỗi vui mừng của bố tôi lúc nhận từ tay mẹ tôi các cập bánh gai thơm lựng gói trong lá chuối khô và những chiếc bánh đậu xanh thơm nức màu vàng đậm. Trong ánh mắt của ông lúc đó, như toả sáng một vẻ “hàm ơn”món quà quí của quê vợ. Dẫu rằng ông chẳng lạ lẫm gì với các loại bánh “ga-tô kem” sinh nhật có những viền hấp dẫn, hoặc bánh “cao lâu” được nướng trong lò.
Hiểu đúng ra, ngày còn nhỏ, vì tôi ở độ tuổi ‘dễ sai vặt’ nên thường được mẹ tôi ưu tiên cho đi theo. Trên tôi còn có một chị và một anh, và khi đó, bố tôi cần chị và anh tôi ở nhà để giúp vài việc. Những năm đó, anh tôi ở vào tuổi mười lăm mười sáu tuổi, lứa tuổi nhiều mơ mộng và ưa thích các sinh hoạt với bạn bè cùng trang lứa.
Một hôm, anh tôi tham dự ngày hội cắm trại do Hội Hướng Đạo tổ chức, còn tôi ở nhà dọn dẹp và sắp đặt sách vở nơi góc nhà hai anh em vẫn ngồi học. Trong đống sách vở ngổn ngang góc nhà, tôi bỗng nhìn thấy vài trang sách mở một quyển vở chép tay của anh tôi. Đó là các trang thơ anh tôi chép lại từ sách, báo in ấn thời ấy. Những bài thơ tình rất hay, mà huyền diệu thay đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Chẳng hạn như các câu thơ:
“Đời không yên lặng nữa
Lòng trai thấy vấn vương
Mắt đượm màu tâm sự
Đúng rồi !...
Lòng chàng trai mơ chuyện yêu đương.”
( Xin thực lòng mong tác giả bài thơ lượng thứ, vì đã quá lâu, tôi chỉ còn nhớ được riêng vài câu thơ).
Đến nay, qua nhiều năm, dù cố công tìm kiếm trong nhiều tác phẩm về thơ, nhưng rất ít dịp tôi gặp lại lần thứ hai bài thơ đã biết vừa kể qua trên. Và tôi chẳng thể nào quên những bài thơ tôi tình cờ đọc được trong quyển vở nhỏ của anh tôi. Sau này, tôi chẳng còn dịp xem những trang thơ chép lại của anh tôi nữa. Có thể, anh đã đem tặng quyển vở chép thơ đến một giai nhân nào chăng? Và sau nữa, anh tôi chuyển sang ưa thích các môn thể thao, rất ít khi nghe anh nói đến chuyện văn chương chữ nghĩa. Có một hôm, tôi chợt nghe anh ngâm khẽ mấy câu thơ:
“ Em ở đầu sông soi gương
Anh về cuối sông tìm bóng
Dòng Thao hay là dòng Tương ?...
..............................................”




Tôi biết, đó là bài thơ kể về một chuyện tình. Có thể anh biết tựa đề bài thơ và biết tên tác giả. Còn tôi, đến nay tôi vẫn chưa biết và vẫn luôn tưởng tượng về chuyện tình của hai kẻ thường nhớ đến nhau. Tình yêu là đề tài muôn thuở, và có thể nó sẽ giúp cho những người làm văn học nghệ thuật thêm nhiều ý tưởng mới lạ hơn chăng ?




Vân Võ Hoài Phương




==========================



Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Vài Dòng Văn Nghệ Phương Xa ( 1 )


Tạp Chí Trình Làng




Thường khi bạn nghe một vài người nói, ai vào tới cõi văn chương- làm nhạc- vẽ tranh, thì đời chẳng khác chi một con thuyền không bến. Hiển nhiên từ xưa đến nay, đời của các nghệ sĩ làm nghệ thuật (họa sĩ hay nhạc sĩ..), hoặc làm thơ, viết truyện.. thường lênh đênh phong trần nay đây mai đó, tứ thời lo chuyện bão tố rình rập, “tư tưởng muốn bay cao, áo cơm ghì sát sạp”, lúc sống thì gửi niềm vui vào thiên hạ, thỉnh thoảng còn gặp cơn trái gió dở trời nơi khán thính giả ái mộ thì hẳn hồn phách lên tận trời xanh; còn khi thác? Chẳng biết sẽ ra sao... Tuy thế, nhưng cái nghiệp, cái đam mê một đời của những tâm hồn nghệ sĩ đó- nhiều phần có thể họ ít nghĩ đến ngày mai họ sẽ như thế nào- song, họ vẫn sáng tác mỗi khi gặp dịp, để góp vui với người đời, dẫu đời sống của họ chẳng mấy bữa dư giả. Nói một cách công bằng và thiện chí, với các thi nhạc văn sĩ, nghệ nhân, nghệ sĩ.. từng hiến dâng cho đời nhiều hương thơm trái ngọt, nhiều kẻ gần xa ngả nón mũ chào và lưu tặng họ những bông thơm hương- để tỏ lòng ngưỡng mộ chân tình- dù họ còn tại thế hay đã ra người thiên cổ.
Thực ra vài dòng kể trên chỉ là đôi chút ghi nhận có tính tượng trưng. Một ngả nón chào, một bông hường lưu tặng cũng tượng trưng cho một cảm thông, một nỗi niềm nhắn gửi. Nhưng trong hình ảnh đẹp và giản dị của đoá hường, của vẻ nghiêng mình ngả nón kính nể, biểu hiện tình thân thiết, thể hiện một tấm lòng với kẻ họ quý mến, tiếc thương.
Tuy nhiên ở đời thường có nhiều so sánh, đánh giá khác nhau. Chính qua các nhận xét, hoặc khen chê khác biệt, mà ta hiểu biết thêm nhiều. Chợt nhớ cách nay chừng một thập niên, một độc giả tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay nhờ tạp chí VNNN giải đáp một thắc mắc. Thư vị độc giả viết:
“ Trong Truyện Kiều có câu: “Lạ gì bỉ sắc tư phong.” Xin được biết, câu này ý nói gì?”
Biên tập viên Hữu Điển, tham khảo theo sách và giải đáp:
“Bỉ sắc là cái kia kém; Tư phong là cái này hơn do câu chữ sách cổ Phong vu bỉ, sắc vu thử nghiã là hơn cái kia thì kém cái này.” (Truyện Kiều Chú Giải. Vân Hạc Văn-Hoè chú giải- hiệu đính- bình luận. ZIELEKS Company Xb, 1991)
Qua câu Lạ gì bỉ sắc tư phong của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, chúng ta một lần nữa thưởng thức thêm nghệ thuật diễn đạt rất tài tình của Tiên-Điền Tiên sinh. Bỉ sắc tư phong đã là một so sánh, còn "Lạ gì bỉ sắc tư phong" lại là cách đánh giá một giá trị mà hơn cái kia thì kém cái này- Một câu nói rất khách quan và rất hiểu đời!”
( Hữu Điển, tạp chí VNNN số 4/ tháng 6. 2002 )

Trong cuốn Truyện Kiều Chú Giải của Vân Hạc, tác giả Vân Hạc chú giải kỹ lưỡng: “... Do câu chữ sách cổ Phong vu bỉ, sắc vu thử nghĩa là hơn cái kia thì kém cái này, đây có ý nói hễ Tài hơn thì Mệnh kém. Tài kém thì Mệnh hơn. Tài Mệnh ít khi đăng đối với nhau.”(Sách đã dẫn)
Hiểu ra chú giải trên của tác giả học giả Vân Hạc Văn-Hoè, hẳn nhiên nhiều người tự biết ra nhiều việc trong đời. “Hơn cái kia thì kém cái này.” Đây có thể là cách giúp nhiều người quân bình trong lối nghĩ, tránh lối tô hồng hoặc “chỉ biết một, chẳng biết đến hai”. Chắc hẳn nhiều người thường biết một câu qua kinh nghiệm sống của người đời: “Hãy coi chừng người chỉ biết một quyển sách.” ( La-tinh )

Một “Ông Bạn” [ vì nay ’ngài’ đã... thất thập có lẻ ] kính mến của tôi, hồi đó (khoảng năm 2000), nhận được tin tôi sắp ‘gồng’ để thưởng thức hương vị “báo bổ”, sắp ra mắt tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay, ông gởi đến tôi một lá thư viết rất dài, đặc biệt trong đó có vài đoạn ngắn chân tình, cảm động. (Xin mạn phép lược trích, đọc vui và hiểu thêm.. ):
“... Như hoạch định và như lời hứa trong điện thoại, bằng giá nào tôi cũng hồi thư để tâm sự và cám ơn anh đến tận tệ xá thăm tôi. (…)
Tôi rất vui với việc anh đầu tư công sức để ra tạp chí. Mong sao anh vượt qua mọi khó khăn trở ngại để kịp ra đời trong năm nay. Trong đời tôi gặp nhiều người nói mà không chịu làm, đã vậy còn biện minh cho sự đầu hàng và khiếm khuyết của mình. (…)
Công việc anh đang dấn thân đương nhiên gặp nhiều khó khăn thách đố. (…)
Thử thách luôn luôn đến với những ai có ham muốn làm văn hoá. Một việc không có lợi nhuận mà tâm can luôn luôn cắn rứt, đứng ngồi không yên. Kiên trì là kiến giải hữu hiệu hơn cả. (...)
Thực tình trong lòng tôi không có điều gì buồn phiền giận hờn với người đời, cũng như đối với anh. Tôi quí tất cả những ai có tấm lòng và tình yêu với Văn Hoá nói chung và văn thơ nói riêng, hẳn tôi phải quí trọng anh, một người đang phụng sự cho nghiệp “lợi ít mà hại nhiều” này. (…)
Làm Văn hoá cũng như Văn học, buộc chúng ta phải chân thực để nâng cao trình độ trí tuệ không ngừng. (…)
.. Cuối thư xin chúc anh với nghị lực để cho tạp chí ra đời như sở nguyện
.
( Lược trích Thư gửi trong một tháng cuối năm 2000, của Anh G.Đ. P, từng chủ biên vài tạp chí ấn bản trong Vùng..)

Và Anh G. Đ. P , một ngày Xuân 2001, bỗng dưng nhận được tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay ra số đặc biệt ( tháng 1.2001) với vài lời mở trên trang nhất:





“ QUÀ MỪNG XUÂN
Qua nhiều thế kỷ, chủ đề tình yêu núi sông, tình yêu thiên nhiên, tình yêu lứa đôi... thường được văn nhân, thi nhân đem vào tác phẩm và được người đời tán thưởng.
Văn chương và nghệ thuật thường được coi là dấu ấn của thời đại. Cảm tác trước một mùa xuân chan hoà tình người; nỗi lòng trắc ẩn của kẻ ly hương mỗi độ xuân về nơi đất khách; kỷ niệm chuyện tình và mong ước tơ duyên... Tình cảm mênh mang đó vẫn cần với người đời nay như người ta cần không khí để thở, cần một chút hy vọng để sống. Tâm tình của người cầm bút trải bày trên trang giấy bằng những cảnh thực trong đời nhắc nhở chúng ta xót thương quê hương nghèo khổ, xót thương thân phận lữ thứ để tìm lại tình người, tìm đến một tình thương nhân bản.
Với tâm tưởng khiêm nhường trên, tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay xin trân trọng gom góp vài bài văn, thơ của các tác giả ít nhiều quen thuộc, làm nên một Món Quà Xuân gởi đến Bạn Đọc và Bằng Hữu. Xin chân thành cám ơn trước Bạn Đọc và Quý Văn, Thi Hữu đã quan tâm đến Văn Nghệ Ngày Nay và rất mong Quý Bạn Đọc, Quý Hữu bỏ qua cho tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay những thiếu sót của một tạp chí vừa ra đời, non trẻ.
CHÚC MỪNG XUÂN NĂM 2001
Tạp Chí VĂN NGHỆ NGÀY NAY”






Hồi đó, chủ biên báo Văn Nghệ Ngày Nay may nhờ đứa cháu trong nhà 'đứng ra' mua trả góp một máy vi tính mới ra nổi 2 năm tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay, và cũng may hơn nữa, trả sắp hết tiền nợ (còn chừng vài ba tháng ), bỗng dưng 'chủ nợ' (Hãng bán chịu máy vi tính), gởi thư chúc mừng và tặng danh hiệu là "bạn khách tốt", liền trong thư có đoạn văn ngắn... miễn trả tiếp khoản tiền mua máy vi tính !




Tháng 07. 2011



Vân Võ Hoài Phương




==================================================================



Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Một Lâǹ Biêt́ Đêń Las Vegas...



*Có thể nói gần đúng: Vài nhà văn thuộc thế hệ 1 ở hải ngoại đã biết đến đoạn văn ngắn của Peter Ustinov đăng trên một tạp chí văn nghệ hải ngoại, chừng hơn hai thập niên trước: “Muốn đạt tới sự thật, người Đức thường thêm thắt vào; người Pháp thường cắt xén bớt đi; còn người Anh lại đổi đề tài.” ( Một cách thức đã xưa cũ nhưng hấp dẫn và khác lạ hơn chăng? ).
Trang Sổ Tay Văn Nghệ tuần này, xin được “đổi đề tài” như thể thêm một món mới trong tiệc vui văn nghệ cuối tuần...
oOo

Một ngày hè tháng Bảy nóng hừng hực, tôi bỗng dưng được đến Las Vegas. Nơi đây, như nhiều người đã biết, từng được mệnh danh “Kinh đô giải trí thế giới”, “thành phố nghỉ dưỡng” của dân có tiền, “một restaurang nhiều món ẩm thực ngon nổi tiếng” trên xứ Hoa Kỳ, và... cũng có kẻ ưa nói thẳng, nói thêm: nơi đây cũng là “đất đế đô” của những sòng bài.
Ai chưa từng đến Las Vegas, hẳn không rõ thực-hư thế nào. Bạn có thể nói rằng, bạn đã từng xem nhiều cuốn phim có nhiều cảnh quây tại chính nơi Las Vegas. Thế nhưng câu nói “trăm nghe không bằng một thấy” ở ngữ cảnh xem qua phim ảnh này, chưa hẳn đúng với những gì nếu như bạn có dịp sống vài ngày ở Las Vegas. Có thể, điều bạn biết qua phim ảnh chưa ‘hưởng’ được cái nóng trên 40, có khi tới 50 độ C ở vùng sa mạc, cái nóng hừng hực khiến nhiều du khách nhanh chân bước vội. Chân lý “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”... lúc này hẳn sẽ đúng như Pascal nhận định: “Chân lý ở bên này dãy Pyrénécs có thể là điều sai lầm ở bên kia.”
Qua phim ảnh, đôi lúc ta được xem những cảnh: bên này núi, tuyết sương bao phủ, nhưng bên kia dãy núi, cây cỏ xanh tươi, hoa nở muôn màu. Và có ai ‘lội ngược dòng lịch sử’, cũng thừa biết, phương Đông và phương Tây từ rất xa xưa đã có nhiều khác biệt. Nói ngay trong sự hiểu biết của phương Tây và phương Đông cũng khác hẳn nhau. Phương Đông dựa vào những từng trải, kinh nghiệm của đời nay hoặc các đời trước lưu truyền lại; còn phương Tây căn bản xét qua các cuộc nghiên cứu, các thực nghiệm mà theo đó sự hiểu biết hiện thời chắc chắn hơn.
Giữa hai cách thức hay hai lề lối kể trên của Đông và Tây, ngày nay thường được nhiều người cho rằng, không hề có mâu thuẫn hoặc thậm chí cho dù có vài điều trái ngược nhau nhưng hai cách thức đó thường bổ xung cho nhau, có thể lấy một việc trong đời sống như nhiều người đã thấy: cách điều trị kết hợp Đông Tây Y.

Bạn có lúc nghĩ đến kẻ viết bài thường đem “những túi khôn nhân loại”(các câu cách ngôn / hoặc những lời nói hay) để trang trí ‘hoa lá cành’, thêm ít nhiều hương sắc bài viết. Đó là việc đương nhiên, bình thường với nhiều người cầm viết. Và cũng là một cách thức được dùng đến từ lâu để thêm sức hấp dẫn, thêm vẻ ‘óng ả’ và uyển chuyển trong tác phẩm. Theo tôi, điều cần nên tránh với kẻ viết và cả với người đọc là đừng theo kiểu “học gạo”, nghĩa là thuộc lầu lầu nhưng chẳng khi nào ngồi ngẫm nghĩ đến những câu châm ngôn được biết đến. Hình như có vài học giả đã từng biết, “có một nghệ thuật để nghĩ (cách tư duy), và “có một nghệ thuật để biết (cách tập luyện)”. Người đời thường tin rằng, những ai qua luyện tập mà có thêm hiểu biết hữu ích cho bản thân, chính là những người khôn ngoan. Và Goethe- thi nhân lừng danh nước Đức- đánh giá rất đúng về họ: “Những người khôn ngoan là những cuốn từ điển tuyệt vời”. Còn Pau Éluard, nghĩ thêm đến một khía cạnh khác: “Sự khôn ngoan khiến người ta tồn tại, nhưng đam mê giúp người ta sống”.

Xin trở lại với những ngày nắng nóng ở Las Vegas...
Nhớ lại một ngày “bỗng dưng” tôi gặp dịp đến thăm Las Vegas. Tự ngẫm, đây có thể là “một cơ duyên ngược”, “một định mệnh lầm” của vị Thánh ở nơi đâu đó đã vô tình khoản đãi một kẻ ít nhiều khù khờ như tôi (thường khi ”thánh nhân đãi kẻ khù khờ” mà...). Vì từ nhỏ đến lúc lớn, tôi rất dở và kém lanh lẹn về bài bạc. Tự biết mệnh riêng chẳng có duyên phận với ‘canh nóng’, ‘canh lạnh’ nên cũng đành biết thân biết phận không dám ‘ăn theo’, chỉ còn cách ngồi chầu rià, lặng lẽ nhìn xem’thế trận’. Nhiều khi bạn bè trong đám trúng cửa, tiền nhét đầy các túi không hết, đẩy sang bên tôi giữ hộ. Tôi vẫn giữ được vẻ ngoài bình thường và cũng chẳng ham chuyện tranh tài đọ trí. Lúc đó có người bảo tôi là kẻ nửa khờ nửa dại, và “vận may tới sát bên, sao chỉ hững hờ?”. Tôi tự nghĩ, mình cũng như một người thích môn thể thao bóng tròn, tài trí chỉ ở mức ngồi xem thiên hạ ganh đua, nào ai nỡ trách...
Trên các ngả đường ở Las Vegas, mặc dù ngoài trời nóng rát nhưng từng đoàn, từng đoàn du khách nườm nượp bước theo nhau, bất kể ban ngày hay ban đêm. Bên trong các tiệm bán quà tặng, rất nhiều người với vẻ mặt háo hức đi mua sắm, và lạ thay, bầu không khí trong các tiệm quà tặng cũng như trong các khách sạn ở đây mát lạnh, ai cũng cảm thấy dễ chịu, khoan khoái. Ngồi trong một quán ăn đồ ăn nhanh bên đường, nhìn từng đợt du khách bước nhanh trên quãng đường trước mắt, tôi và người bạn đi cùng cũng cảm thấy vui thêm. Tôi vừa nhấp một ngụm nước lọc vừa nói nhỏ với bạn:
-Trời! Chẳng nơi nào nóng bằng nơi này.
Bạn nói:
-Đã hẳn. Các khách sạn sáng rực ngày đêm nơi đây xây dựng trên sa mạc từ nhiều năm trước.
-Bạn làm tôi nhớ đến câu danh ngôn: “Thà ở sa mạc một mình còn hơn sống với một người vợ lúc nào cũng gắt gỏng.” Như vậy sống một mình vẫn còn hơn nhỉ?
-Theo tôi, người nào muốn chắc ăn cả đôi đường thì nên ghi lại câu nói này vào chiếc bảng và đặt trong phòng khách của mình. Nhưng mà nói khe khẽ thôi, kẻo các 'bả' nghe thấy thì phiền lắm.
-Nhưng biết đâu... trong số họ cũng có ai đó thích sống một mình ở sa mạc hơn là chung duyên số với một người lúc nào cũng gắt um sùm?
-Thôi đi. Du lịch đến Las Vegas là để vui chơi giải trí và xem người ta sống như thế nào. Đâu có nhiều thời giờ ngồi trong quán để tranh luận. Này, còn nhiều thứ quà tặng trưng bày trong các tiệm bên đường anh chưa biết đến. Lần trước đến đây nhưng tôi không kịp mang tiền theo. Về đến nhà cứ tiếc mãi về các khoản đồ đặc biệt và độc đáo chỉ ở nơi này mới có. Tôi nghĩ, các khách sạn và các nơi đánh bạc ở đây chẳng thể nào tồn tại mãi mãi nếu như nơi đây không có các cửa hàng quà tặng bán các quà tặng hiếm có và đáng giá. Anh thử nhìn xem dáng vẻ các du khách, mười người đến đây thì có đến chín người vui tìm đến để mua sắm. Tôi nghĩ, đôi lúc người ta cũng phải biết tiêu tiền đúng cách!´
-Câu nói này của bạn, có thể bị “ảnh hưởng” của câu nói: “Đôi lúc cũng phải yêu và ... nấu ăn một cách liều lĩnh.”
-Đúng rồi! Đôi lúc cũng phải đến ... Las Vegas !

Tháng 07. 2011
Vân Võ Hoài Phương



Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Tín Hiệu Mùa Xuân ( 2 )


Từ ngày nơi vùng tôi chuyển sang mùa tuyết, thỉnh thoảng tôi mới có dịp qua thăm chừng vài giờ trên phố. Nơi chốn này không hẳn là thôn dã nhưng cũng không hoàn toàn có các dãy phố nối liền, có thể tạm gọi là vùng ngoại ô tỉnh lẻ. Quanh đây chỉ có vài cụm nhà ở của dân cư, vài tiệm bán các thứ dân cần mua dùng và một, hai siêu thị thực phẩm cỡ vừa. Bởi thế nên sau quãng ngày đầu năm, khi mà áo quần, khăn mũ, giầy mới... đã mua, đồ ăn thức uống sau lễ tết vẫn còn dư dùng, hình như dân chúng nơi đây bớt hẳn việc qua thăm các tiệm hàng trên phố. Một, hai ngả đường đến thành phố nơi đây, vào các tuần này, lúc tuyết bay toả khắp trời, đôi lúc kẻ nào nhìn ra xa, chỉ thấy vài người bước nhanh trong giá rét.
Hãy còn quá sớm nếu nói đến mùa xuân ở nơi đây. Bầu không khí lạnh rét đã giảm dần, nhiều người biết mùa đông đang đi qua nhưng thật sự chẳng ai biết ngày nào là ngày cuối của một mùa đông rét mướt.
Cách nay vài tuần, trời đất nơi này bỗng quang tạnh hẳn, nắng vàng chan hoà và tuyết sáng một mầu tinh khiết, ai nhìn cảnh trời đất cũng thấy đời thêm vui. Đó có thể là vài tín hiệu của mùa xuân đến chăng ?
Những ngày này, vùng phiá Bắc Âu châu bốn bề trắng tuyết. Mùa xuân chưa đến với xừ Bắc Âu, thế nhưng trong các ngày tuyết lạnh, người ta vẫn có thể nói tới một mùa xuân, nói về nắng xuân, nói đến vài khóm hoa thủy tiên sẽ trổi lên khỏi đất. Những cánh hoa thuỷ tiên mỏng mảnh, xinh tươi, rất hồn nhiên trong các ngày xuân vui và nắng mới.
Ai sống nơi đây nhiều năm vẫn biết, thường vào cuối tháng Hai, hoặc trong tháng Ba, trên màn ảnh tivi trong vùng, người ta mới nhìn thấy tín hiệu của mùa xuân bên dòng chữ uốn lượn Vår Tecken (Tín hiệu Mùa Xuân ). Cùng với tếng nhạc êm dịu từ tivi, vẻ đẹp dịu dàng của các cánh hoa thủy tiên bỗng hiện nơi màn hình.
Chợt nhớ lại một sáng mùa xuân năm trước, ai đó... bỗng dừng chân bên đường ngắm nhìn một khóm hoa thủy tiên mới nở. Loài hoa thủy tiên (krokus) ra bông xinh xinh, trông tựa như vài búp ngón tay nhỏ nhắn với nhiều mầu tươi trẻ tím, vàng, xanh ... rất dễ trồng dễ sống, chỉ cần đặt vài hạt nơi bên vườn, là mỗi độ xuân về, bạn lại có dịp ngắm xem một khóm thủy tiên nở rộ gần nơi vồng đất chẳng còn tuyết lạnh. Đó là những tín hiệu của mùa xuân. Trẻ nhỏ nhảy múa hát reo, còn các vị nhiều tuổi mỉm cười nhẹ nhõm ...

Vân Võ Hoài Phương

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Tín Hiệu Mùa Xuân ( 1 )


Tết Tây đã qua vài ngày và nhịp sống bình thường trở lại. Hình như sau lễ mừng năm mới tưng bừng, dân chúng mau chóng sống với sự vận hành quen thuộc trong xã hội. Người đi làm vẫn đến sở làm, trẻ nhỏ đến trường và người ở nhà lo dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, thoáng đãng.
Nói đến việc lo cho trong nhà sạch sẽ ngăn nắp là ít nhiều nói đến phụ nữ. Vì rõ ràng là họ (nữ giới), chăm chút khoản này nhiều hơn nam giới. Nếu như bạn đã từng sống ở Bắc Âu, nhất là sống tại các thành phố lớn tại Thụy Điển, bạn sẽ biết qua về lối sống ưa sạch sẽ (có người cho là họ khó tính, hoặc quá kỹ tính) của phụ nữ nơi xứ lạnh phiá bắc Âu châu.
Để ý tường tận hơn mức nữa, người ta nhận ra rằng, các chàng trai ở tuổi tìm kiếm bạn gái thường rất có ý thức (chẳng rõ do tiếp nhận giáo dục hay được truyền lại kinh nghiệm ?), và khi có dịp may trước sự chấm điểm của bạn gái, các chàng trai thường tỏ ra nhất mực sạch sẽ ! Và đương nhiên, anh chàng nào chậm hiểu, vẫn giữ kiểu sống bừa phứa, các nàng sẽ ngoảnh mặt làm ngơ...
Chuyện thường tình nhiều người vẫn thấy nơi dương thế – như có ai đó đã nói “vung tròn úp nồi tròn, vung méo úp nồi méo”- vậy mà, có vài cặp, sống với nhau đến quãng nửa chừng xuân, bỗng một trong hai người (có thể là người nam và cũng có thể là nữ), bỗng ‘đổ đốn’. Hai người, trong tình trạng đó đã chẳng còn cùng một mẫu số chung, ví dụ như sự sạch sẽ ngăn nắp gọn gàng chẳng hạn; và hậu quả đưa tới đã làm người phối ngẫu nhiều mệt mỏi, chán ngán. Và dĩ nhiên, kết cục cuộc tình là cảnh chia tay chẳng nuối tiếc.
Có khi người hiểu chuyện, hoặc kẻ viết này tự nghĩ rất khó hòa giải với những chuyện rắc rối về tình cảm. Cuộc tranh biện phải quấy thường vẫn được người dưng cho là “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”, và có khi “tại anh, tại ả- tại cả hai bên” thì biết hòa giải ra sao ?
Nghĩ ra, cái “tiêu chuẩn” sạch sẽ gọn gàng sẽ rất đắc địa cho tương lai gần và tương lai xa nếu như chàng và nàng đã cùng nhau cam kết. Một điều khoản đơn giản, ích lợi và tốt cho sức khỏe trong cuộc sống chung – và hiển nhiên- rất có hiệu lực.
..Nhớ lại, cách nay chừng hơn hai thập niên (khoảng trước năm 1990), “theo một cuộc thăm dò phụ nữ tại bẩy nước Âu châu, nhiều người được biết : Phụ nữ Âu châu (những người được phỏng vấn) cho biết họ thích những người tính tình điềm đạm, có tinh thần trách nhiệm, có xe hơi, và không thích xem thể thao được xếp vào loại ưa chuộng nhất. Và ... không có phụ nữ nào được hỏi ( phỏng vấn ) đã tỏ ý thích có một anh chồng (quá ) khôn lanh ở trong nhà ...” (sưu tầm trong tạp chí V.N.T.P số Xuân 1990).
Ngày nay nhiều phụ nữ rất ưa thích xem thể thao, nên có thể coi sự không thích của các bà các cô thời đó, nay ý kiến đó đã ở thời hai chục năm về trước... So sánh “tiêu chuẩn” ngày trước với sự cần có sạch sẽ, gọn gàng của phụ nữ thời nay, người ta biết rõ thêm nhiều ích lợi...
Ngoài ra, sự ưa thích sống sạch sẽ của các bà, các cô còn kèm theo một câu chuyện cổ xa xưa... Theo một chuyện kể đã lưu truyền nhiều nơi tại Bắc Âu, nếu ai để nhà ở bẩn thỉu, các ngóc ngách hoặc nơi xó xỉnh góc nhà dơ bẩn thì ... ma quỉ sẽ tìm đến ẩn nấp.
Chuyện nghe kể chẳng biết có từ thời nào và đúng được bao nhiêu %, tuy thế... tự nhiên ai cũng thấy cần thiết phải lo giữ sạch sẽ trong nhà ngoài cửa. "Thế mới lạ !". Nếu kể thêm chút nữa, e có người cảm thấy “rét” ! Một câu chuyện giúp cho nhà cửa thêm sạch sẽ, cũng là một chuyện hay.
Chợt nhớ hình như đã có ai đó nói, kẻ kể những câu chuyện vui vui và những người nghe được chuyện vui vui đó, đều được hưởng ích lợi cho sức khoẻ như vừa tập thể dục hoặc vừa tập xong vài phút aerobics (thể dục nhịp điệu) ...
Xin được mượn câu nói trên chia sẻ với bạn đọc gần xa, và cũng mong những chuyện vui vui hôm nay là tín hiệu tốt lành của một mùa Xuân tươi đẹp chờ đón ..

Vân Võ Hoài Phương




Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

NHỚ & ĐỌC, trong những ngày mưa tuyêt́ ( 7 )


Hình ảnh “lâu đài văn học Việt-nam” thi sĩ Bàng Bá Lân dùng để nói về nơi tôn vinh những văn, thi sĩ “bất tử”- và cả những văn nghệ sĩ đã “vang bóng một thời”- vẫn còn được người đời nay dùng đến, tuy cũng có người dùng hình ảnh “ngôi đền văn chương”, hoặc vài cách gọi khác nữa.
Có thể nói, sự tôn vinh các nhà thơ nhà văn đáng ngưỡng mộ trong “lâu đài văn hoá” phát xuất từ lòng mến mộ thơ, văn của rất nhiều người yêu chuộng văn học. Riêng có điểm đặc biệt trong sự tôn vinh là cách đánh giá rất khác nhau của giới thưởng ngoạn về tác phẩm và nghiệp thơ, văn của mỗi văn, thi sĩ.
Tác giả Tạ Tỵ, trong một cuốn sách của ông, đã có vài trang viết về thơ của nhà thơ Nguyễn Bính
. Là họa sĩ tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ thuật Hà Nội năm 1943, họa sĩ Tạ Tỵ còn sáng tác thơ, văn và có những tác phẩm thuộc nhiều thể loại như hồi ký, nhận định văn học, truyện, thơ, Văn Sử Học...
Tuy chỉ gặp nhà thơ Nguyễn Bính vài lần, nhưng họa sĩ Tạ Tỵ có nhiều điều để nói về Nguyễn Bính. Mời bạn đọc những chia sẻ của ông kể qua về thời cảnh lúc đó (trong bài viết, Tạ Tỵ gọi nhà thơ bằng tên gọi thân mật ):
“.. Thơ (Nguyễn) Bính rất tự nhiên, mộc mạc không gò bó, kiểu cách như các thi nhân cùng thời. Thơ Bính đi gần với ca dao, rất gần với đại đa số quần chúng. Các cô gái đọc rất khẽ trong phòng the để tiếc nuối thương vay một thân phận hay giận hờn vì người Bính khóc trong thơ sao lại không phải mình... Bài “Lỡ Bước Sang Ngang” vào đời đã đưa Bính lên cao giữa vòm trời Thi Ca đầy tinh tú sáng chói với Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Hoàng Cầm, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên v.v...
...(Nguyễn) Bính là con người làm Văn-Nghệ duy nhất ở thời đó không chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Tây-phương cũng như Đông-phương. Bính làm thơ một mình và thừa hưởng cái kho tàng văn hoá dân tộc qua các vần ca dao, qua nếp sống mộc mạc quê mùa. Do đó, thơ Bính mang tính chất hồn nhiên, với một sắc thái cực kỳ lãng mạn trong lãnh vực tình yêu.”
(
Trích trong Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ,
tr.126 và 127 / tác giả: Tạ Tỵ )

Theo vài nguồn tư liệu văn học sử, các nhà phê bình và một vài nghiên cứu gia về văn học đã đánh giá thì:
...” Khi nói về Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt Nam.”
Và, “thơ ông biểu hiện cảnh quê, thắm được tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn .”
(Theo Bách Khoa toàn thư mở )

Nhận định về những đặc sắc nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính so với vài nhà thơ có tác phẩm về làng quê cùng thời, hai tác giả của cuốn danh phẩm tiền chiến Thi Nhân Việt Nam đã viết:
“ Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho nhiều nhà thơ. Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng. Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê. Anh Thơ không nhà quê một tí nào. Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn, nên chỉ thấy cảnh quê. Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính .”
( Theo Thi Nhân Việt Nam, tr.175 / tác giả: Hoài Thanh và Hoài Chân )
Nếu ta để ý hai cách nhận định trên, thấy rõ giữa “tình quê” và “cảnh quê”, nhà thơ Nguyễn Bính chú ý diễn tả về “tình quê” nhiều hơn. Tuy thế, nhiều bài thơ của Nguyễn Bính đã biểu hiện cảnh quê với những chọn lọc hình ảnh tinh tế.
Những cảnh quê trong thơ của các tác giả nổi tiếng viết về làng quê rất phong phú và nhiều cảnh đẹp như trong bức tranh thủy mạc. Nữ sĩ Anh Thơ đúng như đã được hai nhà phê bình nhận xét “Anh Thơ không nhà quê một tí nào.” Từng câu thơ của Nữ sĩ Anh Thơ như một cảnh riêng, chầm chậm đến với người đọc. Có thể nói, nghệ thuật của nữ sĩ Anh Thơ, như nghệ thuật của một nhà quay phim tài giỏi. Bằng những cảnh quê trong bài thơ Bến Đò Ngày Mưa, thi sĩ Anh Thơ đã là một trong những nhà thơ trở thành “bất tử”, như nhà thơ Bàng Bá Lân đã có dịp nói đến.
Mời bạn đọc, đọc bài thơ sau đây của Nữ sĩ Anh Thơ. Một bài thơ đọc lên có thêm niềm vui như niềm vui được ngắm xem một bức tranh thủy mạc vô giá...

Bến Đò Ngày Mưa

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.
Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu trơ vơ.

Trên bến vắng, đằm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng xo ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

( Bức Tranh Quê / tác giả: Nữ sĩ Anh Thơ )
***
Tháng 12. 2010

Chủ Nhật, 26 tháng 12, 2010

NHỚ & ĐỌC, trong những ngày mưa tuyêt́ ( 6 )


Trong những nhà thơ có tác phẩm tiêu biểu tả cảnh nơi làng quê ngày trước, Bạn ưa thích thơ thường nhớ đến các thi sĩ như Bàng Bá Lân, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ.
Trong một cuốn sách thuật lại vài kỷ niệm, thi sĩ Bàng Bá Lân tâm sự :
Tôi say mê thơ văn từ hồi còn là một học sinh. Tôi thuộc khá nhiều thơ văn của các thi, văn-sĩ Tây phương, Trung-quốc và nước nhà. Nhiều lúc ngâm đọc những bài thơ, đoạn văn ưa thích, tôi thường tự hỏi : “Không biết tác giả có thích như mình không? Đây có phải bài thơ, đoạn văn mà tác giả ưng ý nhất không? Và nếu không thì là bài thơ nào, đoạn văn nào?” Đồng thời với những câu hỏi này- những câu hỏi thật khó trả lời- tôi bỗng nảy ra ý ước ao giá có những phê bình gia cùng thời và quen biết các thi, văn-sĩ ấy làm cái việc mà mình đang muốn biết này, há chẳng hay lắm ru !”
( Mấy Lời Tâm
Sự / KỶ NIỆM VĂN THI SĨ HIỆN ĐẠI )
Ý tưởng “ước ao” đó được nhân thêm sau khi Bàng Bá Lân mượn và được đọc một tác phẩm do nhà văn, nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê biên soạn. Và từ năm đó (1952), Bàng Bá Lân “bắt đầu chú ý đến Nguyễn Hiến Lê.”
Nhà thơ Bàng Bá Lân kể tiếp :
“.. Khi di cư vào Sài-gòn, trong số những thi, văn-sĩ mà tôi định sẽ đến thăm có ghi tên họ Nguyễn.
Tuy nhiên cũng phải hơn một năm sau (tức 1955), tôi mới có dịp tìm đến gặp ông tại nhà ở số 50 đường Monceaux (sau này đổi ra Huỳnh Tịnh Của ) Tân-định.
Nghe tôi tự giới thiệu, chủ nhân tỏ vẻ rất ngạc nhiên và vui mừng. Và sau vài lời trao đổi, chúng tôi trở nên thân mật ngay, tưởng chừng như đã
quen biết nhau từ những ngày xa xưa nào.”
Còn Nguyễn Hiến Lê, đã ghi lại “cảm tưởng đẹp đẽ trong buổi hội kiến đầu tiên này” trong một cuốn sách của ông :
“Ai là người yêu thơ mà không muốn gặp thi sĩ ? Tôi yêu thơ Bàng Bá Lân từ 1935 mà mãi hai mươi năm sau tôi mới được cái hân hạnh gặp ông lần đầu, cho nên lần đó tôi đã giữ ông lại trọn một buổi sáng.”
( Lời Tựa / Thơ Bàng Bá Lân / tác giả: Nguyễn Hiến Lê )


Mời bạn đọc vài dòng viết của Bàng Bá Lân để biết thêm về nhà văn Nguyễn Hiến Lê :
“.. Anh (Nguyễn Hiến Lê) làm việc với giờ giấc nhất định. Tác phẩm của anh rất phong phú và được sản xuất rất đều. Nhìn vào tấm bản dài kê tên những tác phẩm của anh...thì ta không thể không thán phục sức làm việc hăng say và bền bỉ của anh. Nguyễn Hiến Lê quả là một nhà văn có chí và chịu khó !
Anh là một nhà văn chuyên về biên khảo và có nhiều đặc sắc. Cái đặc sắc đáng chú ý nhất là văn biên khảo mà không khô khan; thêm rất sáng sủa, đôi khi duyên dáng, nhiều đoạn vui vui khiến ta thích thú, có đoạn dí dỏm làm ta mỉm cười...
.. Năm bảy trang hoặc cả một chương, bạn chỉ kiếm được một hình ảnh, cũng đủ rồi, miễn nó đẹp đẽ và tự nhiên. Mươi hột xoàn
trong một cuốn sách, bạn tưởng ít sao? Tôi nói thứ hột xoàn thiệt, chứ không phải thứ giả .”
( Kỷ Niệm Văn Thi Sĩ Hiện Đại / tác giả: Bàng Bá Lân )

Nhiều năm qua, tôi thường đọc lại những trang viết của các tác giả thời tiền chiến và đã tìm học trong các tác phẩm đó nhiều điều ích lợi về văn học nghệ thuật, có thêm nhiều tìm biết quý giá. Qua một quá trình đọc những ấn phẩm có giá trị, ai đó sẽ dần dần cảm nhận được văn tài rực rỡ hay bút lực phong phú của tác giả ta ưa thích. Nhiều nhà văn đã qua nhiều trải nghiệm luôn khuyên phải đọc nhiều thì mới sáng tác hay !
Một vài nhận định của Văn, Thi sĩ thời tiền chiến, vẫn hữu ích với người đời nay. Thi sĩ Bàng Bá Lân đã có “mươi hột xoàn” tặng bạn đọc trong một tác phẩm của ông như sau :
“Trong số mười văn thi-sĩ mà tôi đưa ra giới thiệu hôm nay, có người sẽ thành “bất tử”, có người rồi ra chỉ còn là “vang bóng một thời”, có người đã tự tạo được một vòng hào quang khá rực rỡ, có người chưa có mấy tiếng tăm; nhưng tất cả đều đã ít nhiều đóng góp vào công việc xây dựng lâu đài văn học Việt-nam với tất cả khả năng và tình huyết. Riêng một điều đó cũng đáng kể rồi.”
....
( Kỷ Niệm Văn Thi Sĩ Hiện Đại / Bàng Bá Lân / Xây Dựng xuất bản, 1962 )

Đã có người nói, con đường của các văn, thi, nhạc sĩ là một đường dài gập ghềnh và ngàn vạn cay đắng, tuy có... chút xíu ngọt ngào. Một cõi nhiều ham mê và cũng là cõi mà sự đào thải không thương tiếc ! ”Tự đứng được vững trên con đường đó đã là khó. Bước tiếp thêm một bước để nhận sự tán thưởng của người đời, càng cần nhiều nỗ lực hơn.”
Quả thật, đôi lúc đang bước, người nghệ sĩ bỗng “đứng khựng lại”, có thể lúc đó “đường văn, lối thơ” bỗng... hổng nhìn thấy nẻo xa. Thi nhân nào gặp phải cảnh này, lời góp ý sau đây, theo tôi nghĩ, rất đắc địa :
“...Cho nên tất cả vấn đề ở đây, không phải là cứ làm thơ tình hay không nên làm nữa, nhưng là diễn tả ..như thế nào, làm sao rung động được, sau khi mặc khách tao nhân từ mấy ngàn năm nay đã cho chảy bao nhiêu suối mực..
Tôi chẳng dám đòi hỏi những sự tân kỳ, vì đã yêu thì con người nào chẳng nhớ nhung, thương tiếc, sầu, ghen, giận, tủi, khóc, cười ... Tôi cũng không dám đòi hỏi như nhiều bạn khác, rằng thi nhân phải nói hộ bằng lời đẹp hơn tôi, những tình cảm mà tôi không diễn tả nổi... Xin để cho mỗi người sáng tác cảm xúc theo bản tính và hoàn cảnh riêng biệt của người ta trước hết; rồi nếu hợp với tôi, thì càng tốt cho tôi; nhược bằng không nói hộ gì cho tôi, thì cũng chẳng sao, cần nhất là họ nói ra cho đẹp những gì của họ đã.”
....
( Trích Thư Văn Nghệ của ĐOÀN THÊM,
thay lời đề TỰA trong tập thơ
Đường Vào Tình Sử của ĐINH HÙNG )
Đoàn Thêm
SàiGòn, 25. 12. 1960”

***
Còn các đấng nhà văn, lúc các “đấng” gãi đầu gãi tai để chạy hụt hơi trên sa mạc giấy (nhà văn Nguyễn Tuân gọi ’đoạn’ này là đoạn qua sông ), liệu có bảo bối chi giúp được lúc này ? Bạn đã từng biết, ngay cả những nhà văn ngoại cỡ cây tùng, cây thông cũng gặp phải lúc ‘hứng’ chẳng chịu đến, họ đã nói đến nhiều trong các hồi ký (trong cuốn Các Nhà Văn Hiện Đại của một tác giả Nga).
Xin được trích một đoạn ngắn của nhà văn Nguyễn Hiến Lê :
“ TÌM Ý
Công việc đầu tiên và quan trọng nhất của nhà văn là tìm ý. Tìm cách nào ? ...
.. nếu ta chịu làm ba công việc nầy : nhận xét, đọc sách và suy xét thì ta không thiếu ý nữa mà có thể viết được một, hai cuốn sách đầy những tài liệu quý giá, những ý kiến mới mẻ.
.. Vậy có tài liệu rồi mới có ý, mà tài liệu ở trong đời sống chung quanh ta và trong sách. “Bỏ qua giai đoạn đầu tiên, cần thiết cho mọi người cầm bút là tìm tài liệu thì bất kỳ vấn đề nào đối với ta cũng sẽ lớn quá, ngoài sức của ta “.
(Nghề Viết Văn, tr. 104 /
tác giả: NGUYỄN HIẾN LÊ )

Bạn đọc xa gần ưa thích những trích dẫn trong trang này, cũng xin được coi đây là niềm vui nhỏ trong mùa lễ Giáng Sinh ..

Vân Võ Hoài Phương

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010

NHỚ & ĐỌC, trong những ngày mưa tuyêt́ ( 5 )


Những năm gần đây, người ta thường ít thấy trên các trang báo chí các mục nhỏ hấp dẫn, như mục Giới thiệu sách mới, hoặc giới thiệu một tác giả đã có những bản dịch sách hay.
Vài người ưa thích đọc sách, thỉnh thoảng vẫn thấy các cuốn sách mới và sách chuyển ngữ mới xuất bản ở đâu đó, nhưng chừng sau một vài tháng, tên hoặc tựa cuốn sách đó dần dần đi vào quên lãng của những người ... ưa đọc sách. Sự thực đó nhiều người đã biết. Trong số những “người đã biết” này, có các tác giả, người ham đọc sách và cả những người chẳng quan tâm đến việc ra đời các cuốn sách.
Có thể kể ra ngàn vạn lý do trong thời kiệm ước, thời máy vi tính lúc này về sự lãng quên hững hờ đó. Người ta nói, ngày nay chẳng còn ai có thời gian để đọc những tiểu thuyết cỡ chừng năm, bảy trăm trang. Nhiều người vẫn chưa quên văn chương và người ta tìm đọc các truyện cực ngắn hoặc những bài thơ hậu hiện đại, cho dẫu đó là đoản văn cực ngắn, hoặc vài câu thơ có khi cao siêu, bí hiểm nhưng với ai ưa thích mới lạ- nhất là họ chán ngán với nhiều cuốn sách tẻ nhạt và phu phiếm- thì sự yêu thích nét mới lạ được coi như sự ưa thích nhìn ngắm vẻ đẹp của một bức họa tĩnh vật mà họ yêu mến.
Còn có vài người nữa, họ không sợ làm mếch lòng ai hết, họ nói thẳng tâm tư của họ. Có lúc họ than thở với bạn bè, có khi lại than vãn với người nơi tiệm sách. Họ cho là, vài người làm ra sách nhưng chẳng rõ do vô tình hay cố ý lại làm mất giá trị của cuốn sách. Bằng cớ: rất nhiều người yêu quí sách nhưng đã thất vọng vì đã ‘rước phải’ những cuốn sách mà nội dung ngoài ý muốn. Nói vậy tức là tên sách, bìa sách thì ưa, nhưng đến lúc đọc qua vài trang đầu mới biết ...”kết thân lầm tướng cướp” !
Vài người quen biết với tôi và chính tôi đã đôi lần, chẳng còn biết đặt để các cuốn sách đó nơi đâu... Những cuốn sách mà nhiều người-
và ngay cả báo chí trong nước đã nhiều lần ca thán- kêu là “sách dỏm”. Bià các cuốn sách đó rất đẹp, giấy in trắng và thuộc loại giấy tốt. Tên sách đi chữ hiện đại, tựa sách xem chừng hấp dẫn; vài cuốn còn có tên các tác giả có tiếng trên thi, văn đàn... Nhưng nói thực tình, ngoài một vài cuốn đã nổi tiếng thời tiền chiến và những cuốn sách của những nhà xuất bản giữ uy tín, còn những cuốn khác ( nhất là các cuốn nặng phần theo học thuyết... ), rất khó thuyết phục người đọc. Vì một lẽ đơn giản ai cũng biết, ngày nay các thứ học thuyết đã sụp đổ như bức tường đã ngăn đôi Đông và Tây Bá Linh.
Vài bạn bằng tuổi với tôi, họ cũng rất quí sách, kẻ có ít sách cũng có một tủ sách trong nhà. Lúc hỏi qua cảm tưởng của họ về các cuốn sách mới hiện nay, tôi thường nhận nơi họ một cái nhìn hơi khó “giải mã”! Một cái nhìn ước lệ kiểu ”toàn cầu hoá”, có pha một chút màu cổ điển “biết rồi, khổ lắm...nói mãi...nói mãi...nói mãi…” Ánh nhìn đó thay cho một câu trả lời giá trị !
Tìm lại những lời nói về sách, người ta biết rằng “bài bản thương mại hoá” trong việc xuất bản sách đã có từ thời nhà văn Anh, Dickens Charles. Ông đã nhận định về sách của một thời: “Có những quyển sách mà phần đẹp nhất chỉ là cái bià sách và cái gáy quyển sách”.
Với những cuốn sách mà “phần đẹp nhất chỉ là cái bìa và cái gáy sách (có người kêu là cái lưng của cuốn sách)", đương nhiên để trang trí trong nhà lại là mốt ăn chơi thời thượng của dân nhiều tiền, tuy nhiên họ chẳng bao giờ cần đọc để hiểu một trang sách.
Bạn ưa thích đọc sách, có sở thich đọc sách, thích có một kệ sách quí trong nhà ( ít người có tủ sách quí để thỉnh thoảng tìm ra lạc thú đó nha ! ), chắc bạn hiểu rõ, có những quyển sách thuộc loại “gối đầu giường” và có những quyển sách thuộc loại "giời ơi đất hỡi" ...


Vân Võ Hoài Phương

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

NHỚ & ĐỌC, trong những ngày mưa tuyêt́ ( 4 )


Tôi vẫn nhớ ngày đầu bước chân đến một thư viện trong thành phố gần nơi tôi ở cách nay đã nhiều năm.
Hồi đó, giáo viên dạy tiếng Thụy của trường học di dân và phiên dịch viên trong trường dẫn những học sinh trong lớp chúng tôi đến thăm thư viện. Theo thông lệ nơi học đường xứ này, mỗi tuần, học sinh được một ngày hoặc nửa ngày ra ngoài trường vui chơi hoặc đến thăm một nơi nào đó, chẳng hạn như nơi làm bánh mì, nhà máy giấy hay các tiệm bán bàn ghế giường tủ, hoặc đồ gia dụng...
Dù cho bạn là người mới đến, nhưng sau niên học đầu- vừa học vừa có dịp rong ruổi ( qua các dịp đến thăm vừa kể )- bạn biết thêm nhiều nơi quanh vùng bạn ở. Nếu bạn- vốn bản tính dễ mến, thân thiện, ưa hiểu biết, sống lành mạnh- bạn có cơ may hội nhập tương đối dễ dàng và mau chóng thích nghi hoàn cảnh. Với hành trang nhiều ưu điểm ban đầu đó, bạn còn luyện giỏi và dùng tốt ngôn ngữ mà người nào sống nơi đây cũng hiểu, bạn sẽ có nhiều thuận lợi trên đường đời.
Đọc đến đoạn này, tôi tin chắc sẽ có bạn gần hoặc bạn xa, nói : Đó chỉ là lý thuyết. Và ai cũng biết, từ lý thuyết đến thực hành là chặng đường dài. Đâu có dễ !
Đúng thế, lý thuyết vẫn chỉ là lý thuyết. Tuy vậy, theo nhà văn Nguyễn Hiến Lê: “Tôi vẫn trọng lý thuyết. Lý thuyết vạch đường cho hoạt động.” Nhận xét của ông có thể đúng. Nhưng cũng có ai đó băn khoăn một nỗi, nếu như lý thuyết đó qua trải nghiệm bỗng ... dở thì sao đây? Cho nên, cũng cần thiết phải đắn đo hai chữ lý thuyết.
Những ngày đầu đến thăm thư viện, lớp học sinh chúng tôi- gồm vài nhóm di dân và tỵ nạn- mới làm quen trường lớp một hai tuần, có người còn quên cách đọc các chữ như å, ö, ä trong tiếng Thụy Điển. Tuy là ‘sinh viên ngoại ngữ năm thứ nhất’, nhưng lúc đó chưa có ai đọc nổi vài dòng chữ thường nhìn thấy nơi bảng hiệu các cửa tiệm. Mặc dầu mít đặc chữ bản địa, nhưng lúc vào đến thư viện đầu tiên của xứ này, thật sự trong ánh mắt của chúng tôi, thư viện là một kho tri thức bao gồm nhiều sách báo rất đáng nể trọng.
Những ai đã có sở thích đọc sách, báo thì các thư viện nơi xứ này quả là cơ may lý tưởng với họ. Jules Claretie từng nói: “ Bạn ưa thích sách ư ? Đó là bạn hạnh phúc suốt đời .”
Một thành phố vài ngàn dân như lúc đó tôi sống, thường có một thư viện rất nhiều sách báo. Hồi đó, lớp học sinh chúng tôi chưa mấy người học được nhiều chữ, nên khi vào đến trong thư viện như bước vào một khu rừng nhiều cây lá, nhìn ngắm mãi mà chẳng thể biết rõ những cây lá đó. Chợt nhớ, theo trải nghiệm của những người đã học qua ngoại ngữ, muốn đọc một tờ báo thuộc loại thường thường của ngôn ngữ khác, ít nhất người ta phải có một vốn từ ngữ khoảng chừng 5.000 đến 6.000 từ; và để vượt qua “rào cản ngôn ngữ”, cũng cần phải biết và hiểu cách tương đối các từ trong vốn đã có.
Về khoản ngoại ngữ, tôi chỉ là “dân ăn đong”, nghiã là có bao nhiêu xài từng đó. Thật tình có lúc mải việc, chữ trước viết đúng, nhưng trong đoạn sau hoặc dịp sau lại viết thiếu nét hoặc thiếu chữ. Có người bảo, đó là chuyện thường tình. Thời đại tin học, dùng máy điện toán, lúc gõ ki bo còn có khi gõ nhầm. Có người, dẫu đã trình làng vài tác phẩm, nhưng cũng có khi còn viết sai một, hai lỗi chính tả ( có thể do người đánh máy sau sai chăng ? ). Đọc giả nào khó tính hoặc kỹ tính có thể chê trách. Tất nhiên trong nghiệp viết không thể ẩu tả. Thường đọc giả đã tâm đắc và có tấm lòng ưu ái với tác giả nào, họ cũng sẵn lòng bỏ qua vài lỗi, vì...nhiều người đã biết, mấy ai đạt đến mức 99, 9% !
.. Trong ngày qua thăm thư viện, tôi bước theo những kệ sách, và đôi lúc dừng lại cầm đến vài cuốn sách xem qua. Bước lòng vòng gần hết đường ngang lối dọc trong thư viện, để mắt từ kệ sách này đến kệ sách khác, nhưng mắt tôi chỉ thâý những cuốn sách của các ngôn ngữ khác. Còn các khung đặt các loại tạp chí thì vô vàn...
Lúc bước gần đến vài kệ sách cuối cùng, tôi bỗng nhìn thấy một kệ sách tiếng Việt, có chừng hơn trăm cuốn. Bỗng dưng một niềm vui đến với tôi. Chợt nhìn những cuốn sách đặt trong kệ sách, quãng đời của tôi trong phút này vui thêm. Tôi hiểu thêm câu nói của Jules Claretie...
“Có những niềm vui ở trong trang sách”, tôi nghĩ hoài về niềm vui này..

Vân Võ Hoài Phương

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Những kỷ niệm cay đăńg ngọt ngào... ( 2 )


“Hồi hộp quá giữa đêm đen đe dọa
lòng hiềm nghi cả vườn ruộng bến bờ
phía trước, là cái chết rình chờ
sau lưng, là tù đày ghê sợ.
Đêm bỗng giựt mình ầm vang súng nổ
chiếc xuồng con hốt hoảng tả tơi
mười sáu người vượt thoát ra khơi
ngay lập tức bị cuồng dông bão nổi
thuyền không mui, sóng dội giữa ngàn trùng.
Giữa hiểm nguy nỗi sợ đến vô cùng
thuyền hãi hùng đòi quay đầu trở lại?
ta vỗ vai nói với tài công trẻ :
“Thượng Đế giúp thương những kẻ can trường”
chàng nhìn quanh dõng dạc: “hỡi thuyền nhân
cầu hồng ân cho thuyền ta đi tới”.
Từng đợt sóng chồm cao như núi
ghe ghềnh lên rồi lọt thỏm vũng sâu
nước thấm vô từ các khe rò rỉ
máy hư, nước uống hết... kêu van !
Chỉ còn viện đức tin Nhân Bản
cho át đi những phút quá kinh hoàng
và tin chắc vào lý tưởng Tự Do
để bớt sợ trước đại dương sóng gió.
Giữa chòng chành của làn ranh sinh tử
điều bình thường bỗng hoá hiển linh
mênh mang bao nghiã cả nhân tình.
Có lý chính đáng cho mình vượt biển
thì hành trình tất cập bến Tự Do .”

Tôi thật lòng tin rằng, dù bạn chẳng là dân vượt biên, nhưng khi đọc đến bài thơ Nhân bản và Tự do trên đây, chắc hẳn bạn sẽ cảm nhận được giây phút “ngàn cân treo sợi tóc” của những người vượt biên năm nào.
Tác giả bài thơ: Anh Gia Đôn Pham, thi phẩm được viết “Tặng 16 người trên thuyền MC 221 đến Mã Lai cuối tháng 12. 1988.” Anh Gia Đôn Pham viết bài thơ này tại Pulau Bidong, Mã Lai tháng 1. 1989.
Bài thơ thuật lại cảnh tượng “hiểm nguy”, với ”nôĩ sợ đến vô cùng“,”hãi hùng” và bi thương của chuyến vượt thoát năm xưa; Toàn cảnh thi phẩm như một bức tranh khổ rộng với những nét hiện thực bi tráng. Bài thơ Nhân bản và Tự do là một tư liệu hiếm quí với những ai muốn làm những thước phim lịch sử có giá trị về những người từng đau lòng phải rời bỏ quê hương để tìm tự do nơi xứ người; những câu thơ như một lời nhắn nhủ với con cháu của những người đã ra đi ...
Có những bài thơ sẽ lưu lại mãi trên cõi đời này
như bài thơ Nhân bản và Tự do của Anh Gia Đôn Pham ..
===================================

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

Những kỷ niệm cay đăńg ngọt ngào... ( 1 )



“THƠ THỨ RẺ TIỀN NHẤT CŨNG LÀ THỨ CAO QUÍ NHẤT...



A. THƠ: THỨ RẺ TIỀN NHẤT
Nhìn tình trạng xã hội hiện nay- Đông cũng như Tây- và nhìn vào sự phát triển của các bộ môn nghệ thuật, chúng ta hẳn thấy rằng THƠ không còn được ngôi vị ”sùng kính” như xưa. THƠ càng ngày càng mất giá dưới cái nhìn của người đời và trong công dụng của cuộc sống. Mà tự thân THƠ cũng đã hàm chứa tính “rẻ tiền” nếu xét trên mặt ích lợi thực tế.
a) THƠ “RẺ TIỀN” ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐỜI:
Thơ không tạo ra lợi tức và không là thứ hàng hoá tiêu dùng: Thơ khó lòng đem bán cũng khó lòng được ai mua. Từ phần tư cuối thế kỷ XX đến nay, hầu như tại các nước phương Tây, có thể nói, Thơ không còn mấy được chú trọng. Thơ không còn tạo ra tiền cho người sáng tác cũng như cho các cửa hàng bán sách báo. Người nhạc sĩ hay nhạc công đờn rong, hát dạo nơi đông người qua lại để được người ta “ném” cho ít tiền. Người mù có thể hát dạo để kiếm sống. Không một ai “ngâm thơ rong, đọc thơ dạo” mà kiếm được khá tiền. Tản Đà trước đây đã toan “gánh Thơ lên bán chợ trời” vì nơi hạ giới “thơ rẻ như bèo”.
Thơ nếu được in gởi nhà sách thì người mua cũng rất hiếm, họa hoằn đôi nhà thơ hoặc đôi người biên khảo về Văn học. Sách Thơ nằm ngủ dài dài nơi kệ sách, co ro trong bụi mù thời gian. Làm Thơ, in Thơ chỉ để lưu giữ cho mình, để đọc cho đôi người nghe hoặc “biếu xén” cho nhau. Từ xưa, tiền nhân làm thơ chỉ để đọc cho mình hay với đôi bạn bè thân nhất. Mà người làm Thơ cũng không nghĩ hoặc không “hy vọng” Thơ của mình bán được nhiều tiền.
Báo chí ngày nay không / hay ít đăng Thơ. Báo nào có đăng, như báo Việt Nam, cũng không trả một đồng nhuận bút. Hình như, Thơ không có giá hoặc không đáng được trả tiền.
Thơ không hoặc ít được thu vào băng Cassette, vào DVD, vào Vidéo để bán hàng loạt như nhạc hoặc phim tuồng. Đôi người Việt hải ngoại có thực hiện những cassette về Thơ nhưng chắc cũng không được mấy người mua, và có mua, có lẽ do thích giọng ngâm hơn là do nội dung của Thơ. Thơ không hấp dẫn thị hiếu, không có những động tác, những hoạt cảnh kích thích vui nhộn nhất là trong thời đại ưa chuộng cảm giác mạnh nên Thơ không / hay ít được đưa vào các chương trình truyền hình, truyền thanh vì không lôi cuốn đông đảo khán thính giả.
Ít có buổi trình diễn ngoài trời về Thơ ( nhạc thì rất nhiều ) cũng như không nhiều cuộc triển lãm về Thơ; không như Nhạc, Họa, Điêu khắc,... được trình diễn hay triễn lãm hết nơi nầy nơi khác và được bán cũng như thu rất nhiều tiền. Ta có thể nhắc đến trường hợp “Triễn lãm Quốc tế về Thơ” cứ hai năm một lần tại Bĩ Quốc dưới sự chủ tọa của Nữ Hoàng Bĩ nhưng cũng không mấy tiếng vang, cũng không mấy được Truyền hình, Truyền thanh và dư luận chiếu cố, cổ võ.


Ngày nay, nhiều Quốc gia, nhiều Công ty, Hiệp hội, Xí nghiệp, Cơ sở Kinh doanh đặt mua “chất xám” vầ Khoa học Kỹ thuật, về Nhạc, Họa, Điêu khắc, Kiến trúc, Ca vũ, Kịch Nghệ, Phim ảnh và những tài năng Thể thao chứ không nơi nào “đặt mua” một nhà Thơ, một tài năng về Thơ hoặc một tác phẩm Thơ."
( ………………….)
( Trích trong NGHĨ VỀ THƠ / tác giả: Nhà Thơ Nguyễn Thùy
/ tạp chí Văn Nghệ Ngày Nay số 3, tháng 1. 2002 )

Xin “thật thà” được phép nói trước, ai đó “sính Thơ”, đã có một “tủ Thơ”, đang lượng sức “dấn thân” vào cõi thơ để hoá thân thành một vì sao trong cõi “tứ bất tử” [ có người đã gọi cõi Thơ – Văn - Nhạc - Hoạ là cõi ‘tứ bất tử’..], xin đừng đọc đến những dòng trên ( nhất là người yếu bóng viá; còn ai đã tâm niệm sống trọn đời với Nàng Thơ / hay là đã chung sức gánh vác giang san với ChàngThi sĩ.. thì chẳng hề hấn chi). NGHĨ VỀ THƠ là một tác phẩm đa diện với nhiều hình ảnh sống động ngoài đời như nhiều người đã biết.Tác giả Nguyễn Thùy, một nhà thơ sống tại Pháp quốc, đã có nhiều thi phẩm được những bạn yêu thơ ở nhiều nơi biết đến. Ông đã nói lên tâm tình của một nhà thơ, điều đặc biệt đáng nể trọng qua bài viết này là lòng “dũng cảm phi thường” của một tâm hồn thi sĩ. Ông hiểu tường tận những mặc cảm trong nghề thơ, hiểu về cách nghĩ của người đời, hiểu về “vận hên xui” hiện nay của nhiều nhà thơ, hiểu rất rõ “tình hình thương trường” nơi các nhà thơ định xông lên để chiếm lĩnh...
Nhớ lại nỗi cay đắng lúc đọc những dòng tâm sự của Nguyễn Thùy, lúc này tôi vẫn còn thấy xốn xang. Nhưng quả thật, hiểu thấm thiá những lời của tác giả bài viết cũng là một may mắn với tôi, và có thể là lợi ích với vài người nữa. Mộng ước thành Thơ nhân đã nguội đi ít nhiều, nhưng chắc hẳn đời bớt được nhiều lỡ bước ...
.. Nhớ lại lúc cầm tập bản thảo đánh máy bài NGHĨ VỀ THƠ của tác giả Nguyễn Thùy trên tay, tôi đã phải mất vài phút ngẩn ngơ nghĩ gần nghĩ xa. Mới xem qua, đã thấy bài viết có những bộn bề chất liệu rất khó cho việc biên tập. Một cơ duyên đến với tôi là tôi vô tình được một vị đã từng chủ bút bốn tờ báo ( 2 tờ trên trời [mạng / net ] và 2 tờ nơi hạ giới ) truyền cho “nghề chủ biên báo bổ”. Tuy vậy, thực sự ‘kinh nghiệm chiến trường’chẳng có bao nhiêu. Liệu có bản lĩnh đảm nhiệm để “lên trang” bài viết của tác giả Nguyễn Thùy?
“ Cuộc đời là một chuỗi kỷ niệm của những ngọt ngào và cay đắng!” Khi đó tôi chợt nhớ đến ý niệm chắc hẳn ai đó đã biết và nhìn vị đàn anh trong ‘làng báo bổ’, người đã đưa tôi tập bản thảo bài viết NGHĨ VỀ THƠ. Nét mặt điềm tĩnh của ông đã nói lên rất nhiều, dường như có một vẻ thách đố và khuyến khích... Ông như muốn thử tay nghề làm báo của tôi (?) lúc này do chỉ vô tình học được. Một ngần ngại hoặc một khước từ trong giờ phút này hẳn là yên thân, nhưng sẽ chẳng bao giờ thực hiện nổi một đam mê, một hobby... một trang báo có bài viết nhiều ngọt ngào và cay đắng như NGHĨ VỀ THƠ; và khi đó, tôi tự hiểu, cuộc đời là những cay đắng và ngọt ngào nếu như ta dám đón nhận để có một đời vui với những kỷ niệm...


Vân Võ Hoài Phương