Hiển thị các bài đăng có nhãn tùy bút văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tùy bút văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Nắng Mưa Một Thời ( 6 )




 


    Những Áng Mây Xa


 

  Thuở nhỏ, tôi có lần được trèo lên một ngọn đồi thoai thoải cùng với vài đứa bạn cũng nhỏ tuổi và sống chung trong một dãy phố.

Niềm vui đến với bọn trẻ chúng tôi rất bất ngờ khi chúng tôi leo đến ngang triền đồi và nhìn xuống đoạn đường nhỏ phía xa xa. Đang sống nơi phố phường nhộn nhịp và lúc nào cũng tấp nập người và xe cộ qua lại ồn ã, nay đứng giữa một khoảnh triền đồi thoáng đãng, nhìn lên bầu trời xanh từng đám mây trắng lững lờ bay dần tới nơi xa, và nhìn quanh triền đồi, cỏ cây hoa lá bên lối bước lên trông rất vui thích như chào đón bọn nhóc tì chúng tôi có dịp may mắn đến thăm. Lúc này mới biết ra thiên nhiên đẹp hơn nhiều khi ta còn chưa biết đến. Mặc cho mồ hôi mồ kê nhễ nhại trên các khuôn mặt non trẻ, chúng tôi bước lên theo đường mòn nhỏ dẫn đến một khoảng rộng xanh êm cỏ mọc, và mấy đứa nhóc tì chẳng đứa nào bảo đứa nào, tất cả bỗng cười vang thích chí và thi nhau nằm dài, giang thẳng tay và chân nơi triền đồi cỏ cây lộng gió. Mắt nhìn lên bầu trời, nhìn những áng mây bay, trong lòng cảm thấy một niềm vui bao la từ trước đến nay chưa hề biết đến. Thuở thiếu thời có những niềm vui thật trong lành và vô tư mãi mãi chẳng phai mờ trong ký ức.

Vài chục năm sau, khi tôi sống ở nơi đây, có một đôi lần tôi lại có dịp ngồi trên một triền đồi xanh êm cỏ mọc và ngắm những áng mây lãng đãng trên bầu trời xanh dịu. Ở nơi đây, bên rìa những đô thị, người ta làm những đường nhỏ dành riêng cho người thích tản bộ. Từ trung tâm nơi phố thị đông người qua lại, chỉ cần thả bộ chừng vài trăm mét là bạn sẽ bước tới một đường nhỏ dành cho người chạy bộ hoặc người thích thường ngày dạo bước lang thang trên đường vắng. Những lối đường này, có quãng dài chừng 3 đến 4 km, uốn lượn qua vài vùng đất cây cỏ mọc không cao lắm, và nếu đi hết đường vòng tản bộ thì lại trở về nơi bắt đầu bước vào đường này. Có nơi, đường tản bộ có lối lên một, hai đồi đất thấp và về mùa hè có rất nhiều loài hoa rừng đua nhau nở rộ. Tôi đã một đôi lần ngồi trên một triền đồi vắng, và chợt nghĩ, nơi đây thật lý tưởng với ai có tâm hồn thi sĩ. Giữa khoảng trời mây bao la và nắng đẹp xôn xao ngày hè, ngồi nghỉ vài phút nơi đây, thả hồn theo mây bay gió thổi, nhớ và nghĩ tới người thương, nay ở góc biển chân trời nào mà càng nhớ thương thì ý thơ chỉ mênh mang  giống tựa bản tình ca không đoạn kết. Tôi ngả lưng trên triền đồi, lòng chợt mơ ước, một ngày nào đó thật xa xôi hơn nữa, lại có dịp ngồi nghỉ ít phút trên một triền đồi, nhìn những áng mây bay, thả hồn theo vẻ đẹp những đóa hoa rừng thơm ngát...

 

   Học giả Nguyễn Duy Cần - tác giả nhiều cuốn sách đến nay vẫn còn được nhiều người tìm đọc - Ông  có những dòng chia sẻ và có những lời khuyên rất bổ ích. Theo ông, muốn “tạo cho mình một cảm xúc dồi dào” nên “biết sống một mình trong cô tịch, giữa cảnh vật thiên nhiên.” Và “Sống được năm ba ngày trong thôn quê, nơi một làng mạc xa xôi hẻo lánh đem lại cho tâm hồn mình một liều thuốc thanh lương và yên tĩnh.

Lại nữa, nếu cảnh vật thiên nhiên càng gồ ghề hùng vỹ thì sự tẩm bổ tinh thần lại càng thêm sâu mạnh. Trước cảnh vật vô cùng hùng vỹ, con người cảm thấy những cao vọng của mình đều nhỏ bé không đâu. Một thứ tình cảm thanh cao sâu sắc chợt đến với tâm hồn ta...”.

( Trích trong tác phẩm Tôi Tự Học của Học giả Nguyễn Duy Cần )

Đôi khi ngồi thảnh thơi bên khay nước, tôi nhớ đến lời khuyên và lời chia sẻ đã từng biết trên, chợt hiểu thêm ra đôi điều mới lạ và cảm thấy ít nhiều thanh thản.

Vân Võ Hoài Phương

**********************
 

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2012

NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 5 )


NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 5 )

Rất nhiều người, dù chưa một lần đến Hải Phòng, nhưng đã từng nghe và biết đến hai câu: “Hải Phòng có bến Sáu Kho. Có sông Văn Úc, có Lò xi-măng.” Và đã có một văn nhân, đem hai hình ảnh có tính biểu tượng của thành phố Hải Cảng vào thơ: “Nhà máy xi-măng ngút trời khói tỏa. Bến Sáu Kho rộn rã còi tầu.”
Cách đây vài trăm năm, nhiều tầu thuyền của các thương gia Nhật Bản, Trung Hoa và vài nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Pháp, Tây Ban Nha... thường theo đường thủy đến Hải Phòng buôn bán hoặc trao đổi hàng hóa. Từ vài thế kỷ trước, Hải Phòng đã là một bến cảng rất thuận tiện nằm trên đường hàng hải quốc tế. Còn bến Sáu Kho do người Pháp xây dựng, nơi có các cầu tầu và bến bãi rộng rãi. Từ bến Sáu Kho, có một đoạn đường sắt ngắn khoảng 2 km tới ga xe lửa chính và từ ga xe lửa này, hàng hóa tỏa đi khắp nơi, vì thế việc vận chuyển và lưu thông nguồn hàng xuất, nhập khẩu rất thuận lợi. Với vị thế đắc địa là một bến cảng lớn nhất miền Bắc, cách nay vài trăm năm, Hải Phòng là miền đất sống nhiều hứa hẹn tươi sáng, một nơi tìm đến để làm ăn sinh sống lâu dài của nhiều dân cư quanh vài vùng lân cận- những người dân lành, suốt một đời chăm chỉ làm lụng... Trong đám đông dân lành tìm đến Hải Phòng để an cư lập nghiệp hồi đầu vài thập niên của thế kỷ 20 (khoảng chừng trong các thập niên 1920-1940), có bố mẹ và vài người họ hàng, thân hữu với gia đình chúng tôi. Theo lời kể lại của các cụ đã sống thời ấy, vào giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, khi vùng đất miền cửa biển này mới có nhà máy xi-măng, mới có bến cảng Sáu Kho thì dân tứ xứ mười phương đã tìm đến vùng đất Hải Phòng. Bố mẹ chúng tôi, đôi lúc kể lại, hai ông bà đến Hải Phòng từ hồi mới qua tuổi thiếu niên, ở lứa tuổi mười lăm, mười sáu; cả hai đều sinh trưởng nơi vùng thôn dã và tìm đến thành phố Hải Phòng lập nghiệp với hai bàn tay trắng...


*


Có thể nói, phần đông dân cư sống tại Hải Phòng ngày nay, gốc gác (nguyên quán) là từ các tỉnh, thành lân cận như Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình. Thỉnh thoảng cũng nghe nói có gia đình đến từ vùng biển Quảng Ninh, đến từ vùng châu thổ sông Hồng (khu vực được nước sông và phù sa đắp đổi nên thành miền đất trù phú, phì nhiêu), hoặc đến từ vùng trung du Bắc Bộ. Hai tỉnh là Hải Dương và Hưng Yên gần Hải Phòng, nên dân Hải Phòng có nguồn gốc Hải-Hưng cũng đông (trước đây có thời hai tỉnh đã hợp lại thành một tỉnh mang tên Hải Hưng). Nhưng số dân đến Hải Phòng lập nghiệp nhiều nhất có lẽ là dân đến từ Nam Định và Thái Bình. Người dân Nam Định từ xưa nổi tiếng có tay nghề thủ công đứng vào hàng nhất, khéo tay và sáng tạo nhiều đồ mỹ nghệ về vàng, bạc...; nên các tay thợ lành nghề Thành Nam dễ dàng đem hiểu biết và kinh nghiệm nghề sống tốt với Hải Phòng, lúc đó mới chỉ là thanh phố công nghiệp non trẻ. Còn dân Thái Bình, được tiếng tốt cần cù, chăm chỉ và rất chịu khó từng sống trên một vùng đất luá, nơi lừng tiếng là vựa thóc của Bắc Bộ; vùng đất yên bình từ ngàn xưa (Thái Bình), nơi ít khi xẩy ra chiến tranh tàn khốc. Người dân Thái Bình, nguyên gốc, thường tự hào với bản tính hiền hòa, hay lam hay làm và thân thiện của họ. Dẫu trong cảnh ngộ nào, họ vẫn tin tưởng những tốt lành sẽ đến (sau cơn mưa bão, trời đất sẽ lại yên lành). Họ thường sống với tâm hồn thơ thới hân hoan, luôn lạc quan yêu đời (... mà cuộc đời, như có người đã biết “có bao lâu, mà hững hờ...”. Có đúng không nhỉ?). Thành thử, hãy tự mình tìm nguồn an ủi hay tìm một niềm vui, dù ít ỏi trong tâm hồn, để sống tiếp. Cái ánh sáng trí tuệ này, hiểu theo chất triết học một câu khuyên nhủ của dân Tây, đại khái: “Thà thắp sáng lên một ngọn đèn, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối.” Thật lòng, tôi ưa thích những người, dẫu trong nguy nan và ngay cả trong khi “chưa nhìn thấy ánh sáng nào le lói cuối đường hầm”, họ vẫn giữ được trong ý tưởng những hy vọng tốt lành.
Người dân Hải Phòng qua nhiều năm như tôi biết, họ mang trong người một thể chất (có người gọi là “phong cách”, “khí chất đậm đặc”) phong phú đặc biệt, gom góp nhiều nét dân dã truyền tiếp từ thế hệ trước, chẳng hạn như dân gốc gác Hải Dương thường thích làm các loại bánh đậu xanh, bánh gai... vài thứ bánh đặc sản nổi tiếng đất Bắc, và họ ưa thích phát triển buôn bán để kiếm sống. Dân gốc gác Hưng Yên, nơi có vùng đất trồng loại cây ra quả nhãn lồng ngon và có giá trị, thường thích chăm nom vườn tược và yêu cảnh thiên nhiên.
Những hợp chất tốt đẹp về vật chất, trộn lẫn tinh thần (thơ, phú... của dân các vùng ‘đem đến’ đất Cảng), thêm nữa, khí hậu Hải Phòng ảnh hưởng tốt đến người dân Hải Cảng, giúp tinh thần họ thêm phóng khoáng, rộng mở, hiền hòa “như gió biển”. Và đặc biệt hấp dẫn hơn nhiều, trong những câu chuyện thường ngày của người dân Hải Phòng, bạn phải là người tinh ý và hiểu đời đến một mức nào đó, bạn mới hiểu cách nói vui nhộn và pha chút hóm hỉnh của họ (những ’mắm, muối, chanh, ớt’, ‘gia vị’ của đời sống). Cách nói ý nhị pha chút vui vui hình như từ lâu đã có ở trong tâm huyết của dân đất Cảng, và mặc nhiên là thế hệ sau họ diễn tả giọng điệu có nét vẻ hài y chang thế hệ trước ! Còn dân đã sống nhiểu năm trên mảnh đất Hải Phòng thì sao? Khi chợt nghe một câu chuyện vui, hay rất ‘tếu’ của bạn, dân Hải Phòng chỉ cười mủm mỉm.
Bạn có thể không tin vài dòng tùy bút tản mạn trên, nhưng sẽ có ngày bạn mỉm cười với những chuyện văn nghệ tôi kể lướt qua ở nơi này nơi khác...
....
THÁNG HAI, 2012
Vân Võ Hoài Phương
******************

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 4 )


Nắng Mưa Một Thời ( 4 )


Những khi vui chuyện với một, hai người bạn đến thăm, và vào lúc anh chị em tôi quanh quẩn trong nhà, mẹ tôi hay đưa mắt nhìn anh chị em tôi, nói nhỏ nhẹ với bạn của bà:
-Mấy đứa con nhà này mỗi đứa một tính một nết. Đứa lớn này, [chị gái lớn nhất/ trưởng nữ], cứ vài ngày lại cùng bè bạn chơi thân với nó đến hiệu ảnh chụp vài kiểu ảnh. Gần hai chục tuổi rồi, mà cứ mơ ước những chuyện ở tận đâu đâu.
-Lứa tuổi con gái tân thời ở phố bây giờ là như thế- Bà bạn mẹ tôi góp lời- Bà có nghe đám thanh niên tóc húi cua dạo này tán tỉnh con gái bà chưa?
-Thật hả?
-Chứ còn gì. Tôi đã một lần nghe mấy đứa còn tuổi học trò đó đi qua trước cửa nhà bà, vừa thoáng thấy bóng dáng đứa lớn nhà này, trong bọn trẻ có đứa hát liền: “Tóc em dài, sao em không vấn? Cứ ‘phi-zê’ cho tốn tiền anh.”[lời một đoạn bài hát nhại trêu nhau của thanh niên thời ấy..]
-Tôi mà bắt gặp được thì đừng trách tôi...
-Bà ơi, thời bây giờ khác rồi. Nói ngay như ông nhà bà, trước đây mỗi khi bước ra đường, ông ấy đâu có ngắm vuốt kỹ như vậy. Nhiều hôm tôi gặp ông, trời chẳng nắng gió nhưng hôm nào cũng thấy ‘thầy’ đeo kính râm, hình như...
-Còn hình như gì nữa, cái kiểu này là mắt trước mắt sau nhìn cho rõ...
-Bà này, chưa gì sư tử Hà Đông đã dựng hết tóc tai lên rồi. Theo như tôi biết, ông ấy cũng có tí “ga-lăng”. Nhưng nói đúng ra, ông này vẫn là người chân chỉ hạt bột, làm ăn đứng đắn, không thuộc loại... vừa trông thấy gái ... tất cả… mọi cái đều bấn hết cả lên!
-Ăn ở với ông ấy bao nhiêu năm, tôi còn lạ gì tâm tính ông ấy. Mà đàn ông, bà biết không?
-Tôi chẳng biết gì sất. Tôi đâu có dính dáng với những thứ...
-Bà có bước chân vào, rồi có lúc tóc tai bà dựng đứng lên gấp mấy lần tôi. Đàn bà thường thích lời ngon tiếng ngọt, còn đàn ông chẳng những bài bản “ga-lăng”, hào hoa phong nhã thuộc lầu mà còn mầu mè...
-Những thứ này, tôi đọc qua một quyển sách, tôi biết rồi, thường là giống đực bao giờ cũng có mầu vẻ bên ngoài hấp dẫn và ưa thích săn đón, lấy lòng đối tượng. Đâu có dại gì ham mê các thứ mầu mỡ riêu cua, hoặc hoa lá cành kiểu đó.
-Thể nào đến bây giờ, bà vẫn là bà. Chẳng chung đụng với ai để rắc rối cuộc đời.
-Nhưng nhìn ngó lại, những kẻ có gia đình, tuy bận rộn lo toan nhưng cũng có lúc vui lúc buồn. Có con gái thì nó giúp được việc bếp núc. Còn con trai, nó làm được vài việc mà ai chân yếu tay mềm không làm được.
-Đứa thứ hai nhà này [anh trai trên tôi], mười bốn, mười lăm tuổi rồi, nhưng đã giúp được gì đâu. Suốt ngày ở ngoài bãi bóng, quần thảo bóng ban với bạn cùng phố xóm.
-Trước kia, tôi thích tính nết đứa thứ hai của nhà này, vừa nhanh nhẹn vừa có vẻ thích về thơ, nhạc. Nhưng thường gần đến tuổi trưởng thành, có đứa đang hướng nội chuyển sang hướng ngoại. Điều này chẳng mấy ai biết trước, từ xưa đã có câu “bố mẹ sinh con, Trời sinh tính.” À, còn thằng em [xin thưa, bà này nói đến tôi], ít khi tôi nghe bà nói về nó.
-Chị nó và anh nó hưởng hết cái ngoan cái khôn rồi. Đứa con thứ, nhất là những đứa sau, thường là những đứa ít nổi trội. Đứa nào may lắm thì học lỏm tí chút cái khôn ngoan của anh chị sinh ra trước nó; nhưng thường một, hai đứa đầu sáng dạ hơn. Thằng thứ ba này, lúc rỗi chỉ chúi mũi vào vài cuốn sách, truyện. Đấy bà xem, bây giờ nó đang ngồi dựa cột đọc mải, đọc miết...
-Xem sách, xem truyện là tốt. Mấy đứa cháu con chú em tôi, đi học về, quăng sách quăng vở nơi góc nhà xong là chạy đi chơi liền.
-Trẻ con, thường mỗi đứa thích một thứ. Hồi xưa, bà thích nhẩy dây; còn tôi lại thích trò cam quýt mít dừa... Ít người thích đến các loại sách của thánh hiền, chẳng biết thế nào là sách hay với sách dở.
-Bà nói phải. Đã nói có sách thánh hiền, thì hẳn là phải có sách thánh dữ. Tôi nghĩ, đọc được sách của thánh hiền thì không thành công cũng thành nhân; còn rủi đọc phải sách của thánh dữ, sau này chỉ đi chém giết lẫn nhau thì cũng hãi hùng.
Tôi, lúc đó, ngồi dựa cột nơi góc nhà, mắt chẳng rời quyển truyện cầm trên tay, nhưng nghe được từ đầu đến cuối câu chuyện, thật tình khi đó có những lời chưa thật hiểu, vậy mà có nhiều lời qua lại đó còn nhớ được đến ngày nay. Và còn nhiều hôm, trong quãng năm tháng này, bên những lời trò chuyện của mẹ tôi với vài bà bạn quen biết, tôi còn được nghe vài truyện cổ xa xưa. Đôi khi, vài người họ hàng từ dưới quê lên thăm, những buổi chuyện trò vui vẻ thường đến tận đêm khuya. Tôi rất thích nghe những chuyện kể về nơi có mái nhà lợp rạ, vào những đêm tối trời, anh họ tôi ở nơi quê Hưng Yên bỏ đom đóm trong một chiếc lọ nhỏ làm đèn... và ở một góc nhỏ nào đó dưới chân cây rơm bên vườn, có một chú dế với chiếc vĩ cầm, say mê trình tấu bản nhạc chú vẫn hằng ưa thích như trong một quyển truyện tranh tôi đã đọc đêm nào.


*

Những năm đầu thập niên 50, dân chúng ở các thành phố lớn- sau những lần tản cư để tránh bom đạn chiến tranh- đã trở về nơi đường phố cũ, gây dựng lại nhà cửa sau những tàn phá, loạn lạc. Vào những năm ấy, không khí yên bình dần dần trở lại.
Trong các ngày vui lễ, tết đầu năm, anh tôi thường dẫn tôi đến vài nơi tổ chức vui chơi ngày tết, như hội chợ thường diễn ra vài ngày ở khu Vườn Trẻ (trước đây gọi là Vườn Hoa Con Cóc, vì trong nơi đó có một bồn phun nước và có 4 con cóc rất đẹp, rất to bằng xi măng mầu và miệng những con cóc phun các tia nước lên cao).
Đặc biệt nơi đầu Vườn Hoa Con Cóc, vào các ngày có hội chợ, thường luôn có một “xe xi-nê”. Chiếc xe đặc biệt này chiều dài khoảng chừng 2 mét và có 2 bánh. Toàn thân xe là lớp kim loại nhẹ bằng nhuôm; một đầu xe thuôn dài, phía cuối xe- nơi chủ xe xi-nê cầm lái- là nơi đặt máy chiếu phim, bình điện (ắc-quy)... Hai bên thân xe có hai dãy... trông giống như những “ống nhòm”, đây chính là “chỗ” các khán giả tí hon nhìn vào màn ảnh. “Ông chủ rạp” xe xi-nê là một người đàn ông để ria mép và lúc nào trên đầu ông cũng có một chiếc mũ phớt rất nghệ sĩ.
Khi đếm đủ khán giả ‘nhóc tì’ cho một đợt chiếu phim, “ông chủ rạp” nhận tiền xong liền ‘ra vé’ cho khán giả bằng số ghi bên cửa của mỗi “ống nhòm”, mỗi khán giả được nhận một chiếc ghế ngồi (loại ghế gấp nhỏ), và vui sướng hai tay ôm lấy “ống nhòm” nhìn vào “rạp”. Từ một hệ thống có đường dây cáp riêng, “chủ rạp phim” đưa tay kéo sợi dây mỗi cửa nhìn, lúc đó khán giả tí hon mới nhìn thấy màn ành đặt nơi đầu xe (phía bên trong). Thường trước lúc chiếu phim một hai phút, đèn ‘trong rạp’ bật sáng. Sau đó, tiếng sè sè của máy chiếu phim hoạt động và khán giả nhìn thấy hình ảnh chuyển động trên màn ảnh. Mỗi phim chỉ có thời lượng chừng 5, 10 phút. Những đoạn phim ngắn của Vua Hề Sác-Lô (Charlie Chaplin) hoặc vài phim hoạt họa vui nhộn... ”Ông chủ rạp” kiêm nhiệm luôn nghề thuyết minh phim, ông vừa điều khiển máy chiếu phim (chạy bằng bình điện để cuối ‘rạp’), vừa luôn miệng thuyết minh bộ phim đang chiếu.
Anh tôi và tôi, có những hôm xem gần hết “kho phim” của rạp phim di động này. Và có vài bộ phim, anh xem bằng mắt bên phải, em xem bằng mắt bên trái (hai khán giả mê phim chỉ còn đủ tiền xem vài “vé” kiểu này). Cũng có khi, ra về đến chỗ gần khuất nơi đường rẽ, vẫn còn nhìn ngoái lại tiếc rẻ “rạp chiếu phim”...
Bạn trẻ thời thập niên 50 như anh em chúng tôi, lần đầu tiên biết đến Nghệ Thuật Thứ Bẩy qua một chiếc “xe xi-nê” hai bánh.
....
Vân Võ Hoài Phương
******************

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 3 )


NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 3 )

Cửa hàng cho thuê sách [thời bấy giờ, ngoài Bắc thường gọi “cửa hàng” các nơi kinh doanh buôn bán; còn trong Nam, thường nghe là tiệm] là ngôi nhà gọn nhỏ, đứng riêng bên đường phố đông người qua lại. Nhà cho thuê sách có một cửa ra vào ở giữa, hai bên tường phía ngoài đường chính có hai khung kính rộng, bên trong đặt vài cuốn sách.
Thật ra vào những năm đó, ‘thành phần’ mua sách và đọc sách, báo chỉ gồm vài nhóm người như giáo viên, và vài người trong nghề nghiệp cần đọc thêm sách. Sách, báo lúc đó là thứ đồ xa xỉ với nhiều người- thứ hàng hóa bỏ tiền ra mua nhưng ít khi cần dùng đến- mà tiền bạc khi đó đâu dễ kiếm. Đang thời thắt lưng buộc bụng để sống qua ngày, thời buổi vàng thau còn đang lẫn lộn, ăn bữa nay còn phải lo bữa mai. Các thứ thường ngày rất quan trọng cho mỗi nhà như các bao mùn củi (ngày đó, nhiều nhà dùng bếp mùn..) hạt muối, mớ rau... còn cần thiết hơn việc mua sách, đọc báo. Bởi thế, qua vài lần bước vào nơi cho thuê sách, phần đông những người đến thuê sách tôi gặp là thầy giáo, cô giáo và vài viên chức nhà nước mà nghề nghiệp cần đọc đến sách. Cũng có khi tôi nhìn thấy một vài người lớn tuổi, chắc đã một thời có thú vui đọc sách, họ đến không để thuê sách, họ đến để chỉ ngó ngàng các cuốn sách như một biểu cảm xa vời với một tiếc nuối quá khứ thoáng qua trong ánh mắt...
Và, gặp vài dịp may hiếm hoi, cũng trong nơi cho thuê sách, tôi chợt nhìn thấy vài ‘tay’ mê đọc sách truyện- “những ‘con mọt sách’ thế kỷ!” – như một, hai lần tôi nghe vài kẻ nói sau lưng họ. Đúng với nghĩa bóng “qúy danh”người đời mến tặng họ, dẫu thời thế đổi thay kiểu này kiểu khác, những người có đam mê với sách, truyện- như sau này tôi biết- họ rất chung tình với nguồn vui thú bên các trang sách và gần như những lạc thú ít tốn kém này theo họ đến tận nửa sau cuộc đời.
Những hôm mưa phùn và vào ngày nghỉ học, tôi thường đến nhà cho thuê sách. Thường khi bước gần đến nơi, nhìn thoáng thấy hai cửa kính bày sách phía ngoài đường mở, tôi biết nhà sách mở cửa. Vào ngày ấy, giữa lúc mưa phùn bay và gió rét lạnh thổi, dưới hiên che trước cửa nhà sách, bên cạnh cửa ra vào, thể nào cũng có một chậu than hồng, và quây quần quanh chậu than hồng là các khách hàng của bà bán bắp nướng. Đang đi ngoài trời lạnh, mũi chợt ngửi mùi thơm bắp nướng- nhất là lúc ‘kiến rủ nhau bò trong bụng’- hẳn là cảm thấy xốn xang...
Mùi bắp nướng theo gió bay tỏa vào bên trong nhà sách... Qua vài lần thuê sách truyện, tôi biết thêm đôi điều và ít nhiều khôn hơn ngày đầu. Thay vì hồi lâu tìm kiếm sách cẩn xem trong bản ghi tên sách, lúc vừa đến nhà sách, tôi nhìn qua các cuốn sách vừa trả trên kệ sách phía sau quầy gỗ. Và đôi khi, thuê được vài cuốn sách hay, nhiều người đã đọc. Kẻ thuê sách, truyện thường phải “ký quỹ”(tiền đặt cọc), một số tiền nhiều gấp đôi, gấp ba gía tiền ghi nơi bìa sau cuốn sách; với vài cuốn sách ‘ăn khách’ và hiếm, tiền đặt trước dĩ nhiên sẽ nhiều hơn. Sau mỗi lần trả sách, nếu sách mất trang, hoặc rách hỏng, người thuê sách phải trả thêm tiền. Việc tìm đọc được các cuốn sách mình ưa thích thời đó không đơn giản, có hôm giở trang mục lục tên sách, nhìn thấy cuốn sách mới vài người đang rỉ tai nhau tìm đọc, nhưng lúc nhìn ra khoản tiền đặt trước, đành lẳng lặng ra về rồi sau đó ‘bấm bụng’ cố quên nhiều bữa ăn sáng, dành dụm tiền bố mẹ cho để thuê sách đọc.
Thường khi thuê xong một cuốn truyện ưng ý, tôi cảm thấy lâng lâng một niềm vui và bước ra cửa, hít mạnh một hơi mùi bắp nướng vừa thơm và vừa có mùi khét nồng của trái bắp nào đó nướng quá lửa. Hai tay ôm cuốn truyện vừa thuê trước ngực, tai tôi nghe những tiếng rao: “Ai mua ... hạt dẻ, bắp rang đây...” Mưa phùn vẫn giăng mắc đầy trời, và lúc này, người đi đường để tránh mưa, thường đi dưới các mái hiên che của nhiều nhà bên phố. Mưa lạnh và gió bấc thổi tê người, cái rét thấm qua lần áo mỏng. Những hạt mưa lạnh đôi khi làm kẻ qua đường đứng lại dưới mái hiên một nhà bên đường, chờ ngớt mưa đi tiếp. Gần một ngõ nhỏ nơi cuối đường rẽ, vài người tụ quanh một quán trà, với những người lớn tuổi thời đó, vài tách trà nóng bên đường, vài điếu thuốc lá thơm có thể là nguồn vui nhỏ nhoi trong những ngày rét mướt. Đôi khi chợt nghe một tiếng rao chẳng thể nào quên được: “Lạc rang, lạc rang nóng giòn... đây !”, và ngay lúc đó, từ một cửa nhà bên đường bỗng bước ra một ông bán lạc rang. Ông này, đầu đội chiếc mũ phớt đã ngả mầu, nhưng ở thời đó, vẫn là một chiếc mũ nhiều người mơ ước có. Mắt ông đeo cặp kính mầu- “một người khiếm thị chăng?”- “chưa chắc đã đúng, bởi vì, chỉ cần lấy tay sờ và vuốt qua tờ tiền, trong khi mặt ngẩng nhìn ngang nơi khác, ông vẫn nhận ra chẳng một lần sai sót trị giá của tờ tiền ấy”. Tôi từng được nghe có người kể qua và một, hai lần có dịp chiêm ngưỡng bậc kỳ tài này. Ông vốn là người vui vẻ, và dù cho lúc nào cũng đeo trước ngực một thùng lạc rang mà phía trước có tấm kính để ai mua lạc rang nhìn rõ những hột lạc nhiều sức quyến rủ. Chẳng biết ông có bửu bối gia truyền đến mức nào mà hai loại lạc rang mặn và ngọt của ông thơm mùi húng lìu và cả ‘làng’ lạc rang đó đây chịu tài nghệ rang lạc của ông một vái ! Những chiều đông lạnh lẽo và cả những trưa nắng vừa chợt hửng, nghe tiếng rao và bỗng thấy ông hiển hiện trên đường phố, những người có lòng từ tâm bỗng thấy trong lòng vơi bớt buồn phiền. Có thể, một người luôn vui vẻ như ông đã xua tan những phiền não đâu đây.
... Món bắp nướng xa xưa, vài bụm tay bắp rang nóng hổi, một nhúm hột dẻ trong túi áo khoác ngoài và vài hạt lạc rang mặn, ngọt... thời ấy, là những “món ăn chơi” của những người dân nghèo một thời.
....

THÁNG 2. 2012
********************

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 2 )


NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 2 )
Nhà tôi ở gần Bến Sáu Kho và gần Ga Xe Lửa chính. Dân ở nơi xa đến và dân sống quanh vài phố gần bên thường gọi con phố nhỏ có gia đình tôi ở là Phố Ga. Từ cửa Ga Chính đi thẳng qua con phố nhỏ đến đầu Vườn Trẻ, cách nay vài chục năm, có một ngôi đền nhỏ tên gọi là Đền Hoa Chéo [vì Đền xây dựng trên một mảnh đất trồng hoa và hình đất chéo]. Hồi còn nhỏ, tôi nghe nói Đền cũng linh nên mùng một và ngày rằm, nhiều người đến dâng hương, dâng lễ.
Từ dãy phố nhà tôi đi bộ lên trung tâm ( nơi có Nhà Hát Lớn ), qua ngả đường Bonnal, chỉ chừng nửa giờ. Bên đường Bonnal ngày trước có một sân bóng đá, có hai cột gôn bằng gỗ nhưng ít khi chăng lưới; và thường là nơi bọn trẻ chúng tôi ôm vài quả bóng cao su đến tập luyện. Nhiều hôm mải thi đấu đến lúc tối mịt với đội bóng “nhóc con” phố bên cũng bằng tuổi chúng tôi, khi chẳng còn nhìn rõ quả bóng mới chịu ra về. Đám nhóc con cả hai đội lúc này mồ hôi nhễ nhại, về đến nhà đường phố đã lên đèn.
... Những năm tháng sau ngày đất nước chia đôi (1954), việc kinh doanh buôn bán ở đất Bắc gần như suy giảm. Các cửa tiệm tư nhân đóng cửa và một, hai tiệm trở thành “cửa hàng hợp tác xã”. Các bảng hiệu “ Cửa hàng hợp tác xã ăn uống”, “Cửa hàng hợp tác xã cắt tóc”, “Cửa hàng hợp tác xã mua chung bán chung”... thường thấy ở những nơi công cộng. Dân chúng giữa cảnh giao thời vẫn còn kinh động trải qua hãi hùng với cuộc cải cách ruộng đất, và đấu tố ở các làng quê; Dân thành thị lúc này kinh hãi bởi việc kê khai thành phần, và sau vụ án Nhân Văn Giai Phẩm. Các biến động dữ đội đó đến ngày nay các thế hệ sau vẫn còn biết. Từ cuối thập niên 50 đến đầu thập niên 60, cảnh đời thay đổi rất nhiều, người ta sống trong âm thầm tủi phận, người lớn tỏ ra e dè, thậm chí có lúc họ nhìn nhau với ánh mắt nghi ngại. Đến bữa ăn, nhà ai có được điã muối vừng, vài con cá mặn hoặc đôi quả trứng luộc là đã khá. Còn thường nhiều nhà chỉ có điã rau muống luộc, bát canh riêu cùng một, hai món tôm, tép rang mặn.
Mùa đông đến gần. Khi đường phố chợt thấy hiện ra những chiếc áo bông, người ta biết một mùa rét mướt với mưa phùn và các cơn gíó mùa đông bắc sắp tràn về. Các bà nhiều tuổi chít vội vài chiếc khăn len mỏ quạ, vài cụ ông vội đem những chiếc áo dạ từ thời “Napoléon Bonaparte”[ theo cách nói một thời ] ra chải chuốt lại và lặng lẽ khoác, vào lúc ngoài đường phố mưa dầm và gió bấc thổi không ngừng...
Một ngày cuối đông, một hôm có việc lên trung tâm thành phố, tôi bỗng nhìn thấy một ngôi nhà nhỏ có bảng hiệu “Cửa hàng cho thuê sách”.
....

THÁNG 2. 2012
********************

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 1 )





NẮNG MƯA MỘT THỜI ( 1 )Thời còn học vài năm cấp II phổ thông, tôi may mắn đọc được vài cuốn truyện mỏng, các cuốn truyện này thường thuê ở một tiệm cho thuê sách nằm giữa trung tâm thành phố. Trong tiệm sách chỉ rộng chừng hai mươi mét vuông, 2/3 diện tích tiệm đặt một quầy bằng gỗ, và phía sau là nơi chứa sách, truyện. Phía trên quầy gỗ có vài quyển mục lục ghi tên các sách cho thuê. Phần còn lại trong tiệm chỉ còn một khoảng hẹp, đó là nơi khách thuê sách ra vào và chung quanh tường là vài tủ kính nhỏ, đặt vài cuốn sách mà chẳng mấy người quan tâm. Khách vào tiệm nhìn thấy những cuốn sách thuộc loại chính trị đó, thường chuyển ánh mắt đến nơi khác. Còn nhân viên tiệm thuê sách vẫn biết những cuốn sách đó, chẳng có “ma” nào thuê, nhưng họ vẫn phải bày trong tủ kính, bởi tiệm cho thuê sách thuộc về nhà nước; có người gọi đây là “bệnh hình thức”, nhưng ở thời đó, chẳng mấy ai dám góp ý...
Đó là đầu những năm 60s của thế kỷ trước. Những ai từng sống và ở độ tuổi tôi thời đó, bây giờ có lúc ngồi nhớ lại, có thể vẫn còn nhớ đến vài cuốn truyện mỏng do một tình cờ hiếm hoi đọc được vào những năm đó, như Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Robinson Crusoe, Đảo giấu vàng, Không gia đình... và còn nhiều cuốn khác nữa; những cuốn truyện rất hay, vừa gợi mở trí tò mò và tưởng tượng, vừa như đưa người đọc đến những nơi chưa từng biết. Thật ra đến nay, khó có thể nhớ lại được từ đầu đến cuối hết thảy các cuốn truyện đó, tên nhân vật cũng quên ít nhiều, nhưng mỗi khi nhìn cảnh đám đông cưỡi ngựa với cờ phướn cùng áo mão thời xưa trên màn ảnh, thì tôi lại thoáng nhớ tới cuốn truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng đã đọc. Còn hình ảnh Robinson Crusoe và anh bạn Thứ Sáu đâu dễ quên? Hai câu chuyện thuật lại trong Đảo giấu vàng và Không gia đình rất hay và hấp dẫn. Hai cuốn này mang hai đề tài khác nhau, một cuốn đọc nhiều hồi hộp gay cấn, còn một cuốn làm người đọc cảm động với những cảnh đời... Ai đã đọc qua những cuốn truyện vừa kể, thật khó có thể lãng quên tựa đề các cuốn truyện, dẫu đã vài chục năm trôi qua.
Vào những năm đầu thập niên 60 (1960), thành phố nơi tôi ở là một hải cảng và được coi là thành phố lớn thứ hai trên miền Bắc. Dân số lúc đó của thành phố không nhiều. Ngày thường, vào giờ nhiều người đi làm, đường phố có vẻ đông đúc, nhưng sau giờ đó và sau giờ “tan tầm”, các đường phố chỉ lưa thưa vài người qua lại. Những buổi tối mùa đông, khi gió mùa đông bắc thổi tới, các ngả phố xá càng quạnh vắng hơn. Về mùa hè, trong hai ngày cuối tuần, các đường phố nơi gần Nhà Hát Lớn đông người qua lại. Thời đó là “thời tem phiếu”, từ bao diêm đến bánh xà-phòng, từ chai nước mắm đến gạo, mì... vài thước vải hoặc than, củi ... ai muốn mua cũng phải có tem phiếu và xếp hàng để mua. Cái thứ quan trọng nhất trong mỗi gia đình thời đó là Sổ Gạo, nhà nào mất Sổ Gạo coi như “treo niêu”. Rất nhiều người còn nhớ thời đó có câu nói “trông mặt như vừa mất Sổ Gạo!”, tức là mức biểu lộ bi ai và lo lắng quá kinh hoàng, ít có một nghệ sĩ sân khấu tài giỏi nào thủ được vai diễn đạt đỉnh cao đó. Còn các phiếu chất đốt (than củi), phiếu thực phẩm, phiếu vải... cũng rất cần thiết, gần giống như các lá bùa hộ mạng của mỗi người. Theo như “tiêu chuẩn” quy định: “nhân dân”(dân thường) một người 4 mét vải /1 năm; “tiêu chuẩn” cán bộ: một người 5 mét vải / 1 năm. Ai lỡ mất phiếu vải, quả là tình cảnh quá khó nói. Nhớ một chuyện, gần Tết, một bạn gần nhà phơi chiếc quần diện tết ngoài sân, chẳng ngờ bị ‘khều’ mất lúc nào không hay, ba ngày tết đành chẳng dám bước chân đến nhà ai. Chỉ vì một cái quần, mất một cái Tết và buồn hết một mùa Xuân. Một chuyện có thật, tôi từng biết.
Trong thành phố có một cửa hàng thực phẩm chỉ bán riêng cho các cán bộ thuộc loại từ phó phòng, trưởng phòng trở lên. Tiêu chuẩn của các loại này dĩ nhiên cao hơn dân thường và người lao động rất nhiều. Hơn nữa, nhiều loại “hàng cao cấp”, “hàng ngoại” chỉ có ai là quan chức cao mới có phiếu mua, còn dân thường và thợ thuyền có nằm mơ cũng chẳng mấy người được nhìn thấy. Nhiều cán bộ ăn không hết bán ra ngoài, và cũng có không ít nhân viên trong cửa hàng “tuồn hàng” quí hiếm ra ngoài, như nhiều người đã biết thời đó. Chính từ thời có “tem phiếu” này, đã phát sinh ra tệ nạn “cửa quyền”, “tham nhũng”, “móc ngoặc”, “ăn chia”, “hối lộ”... Hiển nhiên rất nhiều người sống thời đó biết rõ sự thật này. Hiện nay nhiều người Việt sống tại các nước Đông Âu, sống trong những thập niên 60, 70 từng biết rõ. Sở dĩ đề cập đến việc này, bởi, nạn tham nhũng nay gần như hết cách chữa, mà thật ra chỉ từ “đường lối” dùng tem phiếu, theo kiểu vài nước trong phe cộng sản. Ngày nay dân chúng tại "các nước Đông Âu HẾT CỘNG SẢN”, tuy đời sống chưa sung túc mấy, nhưng hình như dân chúng sống “dễ thở” hơn. Bạn có tin như thế không ?


THÁNG 2. 2012
********************