Hiển thị các bài đăng có nhãn Khung Trời Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khung Trời Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

NHỚ & ĐỌC, trong những ngày mưa tuyết ( 4 )


 Anh bạn thơ Lê Dã Sử trong bài thơ Mộng Ước Bình Thường đã phác thảo về người bạn đời lý tưởng "rất bình thường" của anh bằng những nét có vẻ đơn thuần và mộc mạc:

"Rất bình thường mộng ước chơi vơi
 mái ấm êm vui ánh rạng ngời
 một hiền thê dịu dàng, chung thỉ
 đôi ba trẻ học, hát à ơi."

Và Lê Dã Sử tưởng tượng đến một hôm:

 "Khi tôi lữ khách dặm đường xa
 mưa bão canh thâu giữa hải hà
 nàng ở nhà chong đèn thắc thỏm
 cầu người may mắn nạn tai qua."

Người ta thường cho rằng thi sĩ là người có tài làm thơ. Riêng tôi, khi đọc những bài thơ của Lê Dã Sử, tôi cảm nhận thêm là các nhà thơ còn có tài thể hiện nhiều hình ảnh đời thường chẳng hạn cảnh "mưa bão canh thâu giữa hải hà, nàng ở nhà chong đèn thắc thỏm, cầu người may mắn nạn tai qua" như nhà thơ họ Lê diễn tả.

Xưa nay những cảnh trăng sáng, trăng thanh, trăng treo đỉnh núi, hoặc hoa thơm chớm nở ... đã có rất nhiều trong thơ ca. Còn Lê Dã Sử dùng phối cảnh này để nói đến điều gì ? ta thử ngẫm nghĩ thêm về cảnh đời qua hai câu thơ:

 "Trăng lên, mời rượu, xem hoa nở
 địa đàng đấy hãy thỏa yêu si."  

Ai chẳng mong có dịp vui cảnh điền viên với người bạn đời, và hiển nhiên với những người sống chơn chất khi có gia đình, họ thường mong một đời sống yên lành, vui hưởng. Kho tàng thi phú từng có nhiều bài thơ và những áng thơ trác tuyệt về hoa thơm, trăng tỏ ví dụ câu thơ "khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên". Cảnh "trăng lên, mời rượu, xem hoa nở" của Lê Dã Sử vừa có vẻ thảnh thơi vừa phảng phất chất men say của rượu, tuy rằng mới mời mà chưa uống... ( kẻ viết không rành về rượu, nhưng từng nghe nói "rượu tình chưa uống đã say", có thể là thứ rượu trong cảnh "trăng lên, hoa nở" này chăng?). Đến đây thì mộng ước bình thường của tác giả bài thơ đã thăng hoa và anh coi cảnh này giống hệt cảnh "địa đàng" / một "Paradis" (nơi thần tiên, sung sướng).

Một bạn thơ quen thuộc, có lần nói với tôi về "chất lãng mạn" trong thơ, và lời nhận xét khi ấy của anh khiến tôi đôi lúc tự liên hệ tới vài bài thơ đã biết. Anh nói đại khái rằng, "thơ chưa lãng mạn, chưa hẳn là thi sĩ". Đôi khi người ta nói tới vài bài thơ đại loại 'thơ thẩn', thơ 'khô khốc', thơ 'tào lao', thơ 'hiện sinh'... Nhưng thật tình đến nay tôi chẳng rõ mức độ "lãng mạn" trong những bài thơ từng biết đến ra sao, hoặc giả thứ lý thuyết và nhiều thuật ngữ anh dùng đã làm tôi thêm khó hiểu về điều anh nói tới; hay là, tôi chỉ cảm nhận những hình ảnh lãng mạn trong vài bài thơ thôi, còn nói đến "chất lãng mạn" chắc hẳn vấn đề này xa vời lắm.

Riêng với người làm thơ Lê Dã Sử, tôi nghĩ, thơ của anh dễ cảm nhận bằng nhiều hình ảnh đời thường và  người thưởng ngoạn thấy trong bài thơ của anh có bóng dáng họ, có vài hình ảnh lãng mạn thoáng qua, có tâm tư của họ , có những mong ước họ chưa kịp nói ra. Khoảng cách giữa nhà thơ và người yêu thơ có thể được rút ngắn và trở nên gần gũi thân quen với nhiều bài thơ có chung tâm sự hoặc kỷ niệm ngoài đời và cũng có khi, như người ta đã nói, tác giả bài thơ đã tự đào một hố sâu ngăn cách, biệt lập với nhiều câu thơ 'bí hiểm'. 

Trong 'mộng ước bình thường' của Lê Dã Sử, có một "ước" lý tưởng. Sở dĩ trong bài này nói đến chữ lý tưởng, và nơi mở bài có nói đến "người bạn đời lý tưởng", vì, theo tôi, nhà thơ có một "ước" rất thực tế về người bạn đời mai sau, với cảnh sống chung tình viết lách, cùng chung vui hạnh phúc bền lâu:

 "Chiều xuân hứng chí dệt câu thơ
 em hãy cùng tôi mở bến bờ
 chép giúp bản thảo, thêm lời đẹp
 ta đan hạnh phúc tằm ươm tơ."

Ẩn tàng trong bài thơ Mộng Ước Bình Thường là tâm tình, ước nguyện về một mái ấm gia đình. Tiếng nói từ tâm tư tác giả bày tỏ với người bạn đời mai sau (?) mà hiện nay thi sĩ vẫn chưa gặp:

 "Tôi vẫn tìm em vạn nẻo đường
 từ Đông phương bạt đến Tây phương."

Và rồi qua đến đoạn kết thi phẩm, hình ảnh man mác buồn với một "cõi nào xa" nhưng vẫn còn đôi chút hy vọng, có thể "em" nghe thấu chăng?:

"Người ơi mộng ước bấy nhiêu thôi
 nhưng mỏi mòn hơn nửa kiếp rồi
 em cõi nào xa mong mở cửa
 tôi tìm bóng nhỏ mộng tinh khôi."

Có thể nói, trong thời đại này vẫn còn những người có tâm cảnh "tôi" như tác giả bài thơ mô tả, và có thể nơi "cõi nào xa" cũng có những nàng còn đợi mong những lời thành thật yêu thương.

2. 2016
VVHP

**********************

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

KHUNG TRỜI VĂN HỌC ( 2 )


Mươi Phút Trong Cuộc Đời


   Khi đến tiệm sách hoặc lúc nhận được cuốn sách mới, việc trước tiên của nhiều người là nhìn xem các bìa sách, bìa trước hay bìa sau. Với một người đọc nhiều và có kệ sách chừng một, hai trăm cuốn thì dường như bìa sách không mấy quan trọng. Bởi, như một danh nhân đã nói: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền.”( La Rochefoucauld ). Và có văn nhân cho rằng, “sách là người bạn tốt nhất của tuổi già, đồng thời cũng là người chỉ dẫn tốt nhất của tuổi trẻ.” Lưu trữ và ‘để dành’ cho quãng ngày ‘về chiều’ một “kho sách” hay “kinh sử một vài kho”(Lê Quý Đôn từng nói), là đã có một kho hiểu biết? Vậy cái kho này có giá trị không? Xin thưa, nhiều người thường nghe ai đó nói đến một câu chắc như đinh đóng cột: “Vàng bạc còn có giá. Hiểu biết thì vô giá!”

Những lúc rảnh rỗi, người ưa thích văn chương thường tìm đọc truyện, hay tiểu thuyết nổi tiếng hoặc vài tuyển tập thơ tình. Dành riêng mươi phút giải khuây bên trang sách có thể làm vơi những lo toan thường nhật, làm dịu bớt ưu phiền và kéo thời giờ chậm lại. Người ta vẫn thấy nhiều người thường ham công tiếc việc, hối hả chạy đua với thời gian, “sống không kịp ăn, làm không kịp thở”, để rồi đến cuối ngày ngồi thở ngắn, than dài tiếc nuối “Ông Xanh ơi hỡi ông xanh!” Nghe thương quá là thương.

Bạn hãy thử một, đôi lần- can đảm lên nhé !- đặt các thứ bận bịu qua một bên, và... dành cho tâm hồn mươi phút để nghe một bản nhạc vui hay đọc vài trang một “quyển sách tốt”, để thử xem mươi phút vàng son này trong cuộc đời, tâm trí có thanh thản hơn không?

Nhà văn, nhà báo thời tiền chiến Lãng Nhân- tác giả tập văn phiếm luận Trước Đèn (1939)- một tác phẩm”rất được các độc giả đương thời chú ý” (theo Văn Học Từ Điển / tác giả : Thanh Tùng), đã viết những dòng được xem là “bất tử”: “Nếu con người Việt Nam ngày nay là kết tinh của con người Việt Nam ngày qua ( hoặc ít hoặc nhiều, chối cãi sao được ) thì muốn tìm hiểu những gì còn chi phối đời sống hiện tại của chúng ta, trong khi ta đương co chân chạy theo đà tiến triển vũ bão của văn minh cơ khí, thiết tưởng có ngảnh lại nheo một đuôi mắt vào cuộc sống hôm qua, chưa ắt đã là hoàn toàn ... vong bản !”
Lãng Nhân

    ( Trích lời Tựa cuốn Nếp Cũ Con Người Việt Nam / tác giả: Toan Ánh.)

  Còn nhà thơ Bàng Bá Lân, trong Mấy Lời Tâm Sự, cuốn Kỷ Niệm Văn Thi Sĩ Hiện Đại (1962), viết: “... Trong số mười văn thi sĩ mà tôi đưa ra giới thiệu hôm nay, có người có thể sẽ thành “bất tử”, có người rồi ra chỉ còn là “vang bóng một thời”, có người đã tự tạo được một vòng hào quang khá rực rỡ, có người chưa mấy tiếng tăm; nhưng tất cả đều đã ít nhiều đóng góp vào công việc xây dựng lâu đài văn học Việt nam với tất cả khả năng và tinh huyết. Riêng một điều đó cũng đáng kể rồi.”

Đọc những dòng trên, nếu ta liên tưởng đến bất cứ giai đoạn nào trong văn học Việt nam những thời trước và những thời gần đây, hiển nhiên hiểu được giá trị vài dòng thi sĩ Bàng Bá Lân đã nhận xét và đánh giá.

Đôi khi, một cuốn sách tốt, đọc qua một hai trang đầu đã có thể giúp bạn đọc tỉnh táo hơn, hiểu thêm và tìm ra vài điều đắc dụng nhằm giảm thiểu những áp lực thường ngày phải đối diện.

Vân Võ Hoài Phương

**********************     

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Vẫn Thiếu Nụ Hôn



VẪN THIẾU NỤ HÔN

Tản mạn về V.S. Naipaul
ĐỖ NGUYÊN LY sưu tầm

*Trong một lần gặp gỡ, tâm tình với tác giả Đỗ Nguyên Ly- Ông từng là Chủ Nhiệm Danh Dự tạp chí TỰ DO; một “tổng biên tập” xuất sắc vài tạp chí ấn bản và vài trang mạng lúc đó..- tôi tình cờ biết ông rất thích nghe nhạc classic.
Chia tay với ông, tôi vẫn như còn thoảng nghe những giai điệu dịu dàng và tiết tấu trầm bổng của các bản nhạc cổ điển hôm đó, tuy rằng có vài bản- do băng cassette bởi nghe đi nghe lại nhiều lần nên băng nhựa có chỗ bị ’rão’- mức độ thẩm âm đôi lúc bị hụt hẫng.
Sau hôm đó, tôi dành nửa ngày cuối tuần, thâu tuyển chọn từ vài đĩa nhạc classics tôi nghe những năm trước đó, sang vào băng cassette 90 phút và gửi đến tặng Ông. Nỗi vui mừng lúc nhận được món quà đơn sơ này với ông thật khó có bút mực nào diễn tả nổi. Ông điện thoại đến tôi, rất mãn nguyện với niềm vui vừa có, và vài hôm sau ông gửi đến tặng tờ báo của tôi bài viết “Vẫn Thiếu Nụ Hôn”.
Hôm nay, xin gửi đến bạn đọc gần xa một kỷ niệm đẹp...


Trang Sổ Tay Văn Nghệ

****


VẪN THIẾU NỤ HÔN


Các tác phẩm của V. S. Naipaul, người đoạt giải Nobel văn chương 2002, nói nhiều đến nền văn minh còn loạng quạng của thế giới thứ ba và tâm trạng lúng túng của kẻ ngoại cuộc. Những kinh nghiệm của bản thân tác giả, một dân gốc Ấn Độ nhưng sinh ra và lớn lên ở Tây Ấn vùng biển Nam Mỹ; Một người Tây Ấn sống ở nước Anh, nữa là một trí thức du cư trong trong xã hội hậu thực dân.
Một số nhà phê bình cho rằng Naipaul dung chứa nhiều mâu thuẫn bởi nhãn quan sai lầm về chính trị với cái ‘xã hội nửa vời’. Song không vì vậy mà ông từ bỏ các chủ đề không được tán thưởng. Với Ông, nhà văn là : “Quan sát, quan sát lại, quan sát nữa và nghĩ lại”. Trong bài viết Columbus và Crusoe, tác giả nhấn mạnh: “Mọi người đều biết rõ các sự kiện về Columbus (1). Các tác phẩm và hành động đều nổi rõ khuyết tật vị kỷ của ông ta. Columbus đã công kích chính mình, song bề ngoài anh dũng đó vẫn không xứng với tính cố chấp của ông và uy tín đã sa sút qua nhiều thế kỷ”.
Thân phụ của Naipaul là một nhà báo, qua đời, không kịp chứng kiến con trai thực hiện nguyện vọng của mình. Ông khích lệ con mình: “Đừng e sợ làm một nghệ sĩ. D.H. Lawrence (2) hoàn toàn là một nghệ nhân. Bằng mọi giá, con phải cho mình là Lawrence”.
Khi chụp ảnh để nộp hồ sơ vào đại học, Naipaul tâm sự với người chị: “... Em nhìn vào khuôn mặt Á Châu và nghĩ rằng, một người Ấn ở chính quốc cũng không Ấn hơn em...”. Sau cơn suy nhược thần kinh, Naipaul đã tự tử. May thay chiếc đồng hồ điều khiển khí đốt không hoạt động. Hôn phu đầu tiên của ông mất 1966. Vợ hiện nay là người Pakistan. Đồng hành với cảm giác cần thiết phải viết văn, ông thường nhận ra mình một kẻ gốc Trinidad thiếu quê hương. Naipaul từng là phóng viên đài BBC, nhà bình luận tiểu thuyết của báo New Statement.
Miguel Steet, văn phẩm đầu đời kể lại một nhân vật khá bí hiểm, bán thơ của mình để lấy 4 xu, rồi từ giả quê hương, du học. Các tác phẩm tiếp theo, Naipaul từ bỏ giọng điệu hài hước. Dư luận khen ngợi và tán tụng thế giới của Naipaul “rất riêng tư và quả là tuyệt vời”. Ông trả lời phỏng vấn: “Cha tôi sâu sắc và thâm thúy về mọi mặt. Các nỗi đau của ông thăm thẳm hơn những điều có thể miêu tả. Tôi viết quyển A House for Mr Biswas có dựa vào ông, song hoàn toàn không thể nói đó là người có thực”. Các tập India: A Wounded Civilization (Ấn Độ- văn minh bệnh hoạn) và A Bend in t he River (Khúc lượn của dòng sông ) là những kết sản bi quan về Ấn Độ và Phi châu, những tuyên ngôn tồi tệ của nhân loại. Các du ký và tiểu luận của Naipaul thường bi lụy về quê quán Tây Ấn và các vùng còn nằm trong tình cảnh ‘loạng quạng’.
Các độc giả đạo Hồi buộc tội Naipaul là phiến diện, chủ tâm công kích tôn giáo của họ. “Hồi Giáo đã hợp pháp sự cuồng giận cả về đức tin và chính trị...”. Naipaul nhận định: “Tôi đã gặp nhiều người rất nhậy cảm, ẩn tàng những chuẩn bị bạo hành khủng khiếp”. Ông kết luận về Hồi Giáo Cực Đoan: “Có lẽ, không có đế quốc nào có thể so sánh hoặc đế quốc hơn Hồi Giáo và các nước Ả Rập”.
Naipaul viết nhiều về các di hại của đế quốc, những xung khắc về văn hóa và các ảo tưởng về tự do. Ông thường được so sánh với Joseph Conrad về các đề tài của kẻ tha hương, ngoại cuộc và bất mãn. Naipaul tự coi mình là: “một trong các địa chỉ tối tăm của Conrad trên hành tinh này”.



*



Năm ngày trước khi được trao giải Nobel, Naipaul đã đọc lời phát biểu (Reading) tại Viện Hàn Lâm Văn Học Thụy Điển. Sau khi khẳng định: “Giá trị của tôi nằm trong các tác phẩm của tôi”, Ông trích dẫn quan niệm của văn gia Pháp cuối thế kỷ 19 – Proust (3) trong tiểu luận Against Sainte – Beuve (Phản bác Sainte - Beuve), những lời nói về Khác biệt giữa nhà văn là nhà văn, với nhà văn là con người xã hội. Naipaul đồng thuận với Proust, dẫu có đọc bài viết về tiểu sử nhà văn, kể cả tự thuật của chính tác giả, vẫn bị hao hụt so với các sáng tác của nhà văn. Điều mà nhà văn trao đổi qua mạn đàm, phỏng vấn, kể về lý lịch, bí ẩn đời tư... đều là sản phẩm của cái tôi, của những thói quen sinh hoạt và khuyết tật – chúng hoàn toàn không phải là sáng tạo từ cõi cô đơn ẩn mật nhất ! Nhà văn chỉ viết nên tác phẩm khi biết bỏ qua cả hai, thế giới này và cái tôi thường nhật...
Từ hồi nhỏ cho đến khi trưởng thành, Naipaul vẫn thấy có hai Thế Giới : Thế giới bên trong muốn đóng cổng đẩy các thứ xa lạ ra ngoài; Còn thế giới bên ngoài hiện hữu như một bóng đen, bí ẩn. Cả hai đều cần được khai phá. Naipaul cho mình là nhà văn của trực giác, không thể dùng trừu tượng để mô tả bất cứ kỳ vọng văn chương nào – Tiểu thuyết và du ký đều có giá trị ngang nhau – Tác giả không hề bị dắt dẫn bởi chính trị, chỉ có hài hước và lòng trắc ẩn dẫn độ văn nghiệp của ông thôi.
Naipaul cảm giác rằng, ở xứ Argentina, có nhiều người mê muội các biệt ngữ chính trị vay mượn của Âu Châu. “Khi biệt ngữ biến các giá trị của đời sống thành các khái niệm trừu tượng”, Naipaul phán xét: “Khi biệt ngữ xung đột với biệt ngữ, nhân dân chẳng có được nền tảng căn cốt nào nữa. Họ chỉ có những kẻ thù”.
Về ‘tài năng’, Naipaul nêu ra luận điểm của Proust: “Nếu có tài, những đẹp đẽ sẽ viết ẩn hiện lờ mờ trong ta; giống như hồi nhớ về một giai điệu, nhưng khó nắm bắt để tái tạo âm vực đại thể của nó. Những ai bị ám ảnh bởi trí nhớ lơ mơ về một sự thực mà họ chưa quen biết, sẽ được tưởng thưởng. Tài năng là loại hồi nhớ, cuối cùng nó tạo khả năng cho họ tiếp cận với giai điệu, nghe rõ hơn, rồi ghi lại bằng nốt nhạc”. Naipaul kết thúc bài ‘Reading’ với câu: “Tài năng, Proust nói. Tôi xin nói, duyên may và lao động hết mình”.
Dù nhận lãnh nhiều Giải thưởng quốc tế, được Nữ Hoàng Anh phong tước hiệu Sir Vidia, Ông vẩn không kìm được xúc động; sau khi được nhà Vua Thụy Điển trao tặng Giải thưởng. Ông khóc trong lúc nhạc ngân vang chào mừng những học giả kinh tế tiếp theo Naipaul đón nhận Giải Nobel cao quí.



*



Vài chục năm trước, khi Naipaul đến thăm Pakistan lần đầu tiên, một nữ phóng viên bản xứ – Naria Alvi, xin đến gặp ông cùng với một quyển sách để xin chữ ký tác giả. Lòng mộ điệu khiến Alvi vượt khỏi phong tục Hồi Giáo, xin được hôn lên đôi má của nhà văn. Những nụ hôn đó đã hóa ra chất ‘tơ hồng’, ‘se duyên kết họ.. thái thái bình’..., và văn sĩ với nữ phóng viên thành đôi vợ chồng rất hạnh phúc.
Sau khi đã săn lùng kỹ trong các tác phẩm của Naipaul, được sự đồng tình của độc giả nữa, một nữ văn sĩ Thụy Điển đã phỏng vấn về một ‘hoạt động’ thiếu vắng trong hầu hết văn phẩm của ông: “ Thưa Sir Vidia, ngài nghĩ gì về giá trị của những nụ hôn ? “. Naipaul lúng túng, ấp úng: “Không biết... không biết... không biết”, ông dừng hồi lâu, lắc đầu ... cuối cùng mới dòng dạc: “Tôi sinh trưởng ở nền Văn hóa khác với Văn hóa có những chiếc hôn”.



ĐỖ NGUYÊN LY
sưu tầm


********************
*Chú thích
(1) Columbus (1451-1506), nhà hàng hải người Ý Đại Lợi
tìm ra Mỹ châu lần đầu tiên vào năm 1492
(2) D. H. Lawrence (1885-1930), văn sĩ Anh Quốc
(3) Marcel Proust (1891-1922), tiểu thuyết và
phê bình gia người Pháp- Sau khi cha mẹ mất 1904 và 1905,
Proust tự giam mình trong phòng kín.
( chú thích của tác giả Đỗ Nguyên Ly )
**********************