Hiển thị các bài đăng có nhãn vài dòng tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vài dòng tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Vài Cuốn Sách và Những Niềm Vui ( 3 )


Ảnh kỷ niệm 2015


Thường sau một chuyến viễn du, đôi khi có người hay ngồi ngẫm nghĩ về vài kỷ niệm. Với tôi, kỷ niệm trong chuyến qua Mỹ vào dịp mùa xuân 2015 được ghi lại bằng những tấm hình để nay có lúc xem lại, bỗng chợt thấy thấp thoáng hình dáng 'bản sao' của mình trong những ngày đã qua.

Bởi lẻ loi một mình trên chặng đường xa nên tôi gặp không ít xui xẻo, và thật khác hẳn với lời của R. Kipling khi nói đến du lịch: "Người du lịch cô độc du lịch mau hơn." Riêng tôi, trải qua vài chuyến bay đường dài, tôi nghiệm ra là khi du lịch xa, càng mang ít hành lý thì càng đỡ mệt. Nhưng khổ một nỗi với thời đại vi tính, khi xa nhà cần nhiều thứ gồm: láp tóp, máy ảnh, các sổ ghi chép... Thời của nhà học giả Nguyễn Hiến Lê có vẻ nhẹ nhàng và ít áp lực hơn bây giờ khi ông tâm sự trong một tác phẩm:

"Theo tôi, cuộc sống sướng nhất cho nhà văn là mỗi năm được du lịch bốn, năm tháng, vừa đi chơi vừa suy nghĩ, nhận xét tìm đề tài, rồi về đô thị thăm bạn bè, nhà xuất bản, tra cứu tại thư viện, sau hết kiếm nơi tĩnh mịch viết trong năm, sáu tháng, mỗi ngày viết độ bốn, năm giờ.

Tất nhiên, phải vào hạng ông hoàng trên văn đàn Âu, Mỹ mới có thể sống một cuộc đời phong lưu an nhàn như vậy. Còn như văn nhân nước mình, nếu không có một nghề thứ nhì thì dẫu cắm cổ viết suốt năm, mỗi ngày bảy, tám giờ, cũng không đủ sống..." (ngưng trích).

Còn trong thời @ này - dẫu là thường dân hoặc văn nhân - ai có ký kóp mãi may ra vài năm mới đi du lịch xa một chuyến; mà nhiều người vẫn biết, văn nhân lại khó dành dụm. Còn tôi thuộc loại lưng chừng, chẳng giàu mà cũng không nghèo. Chỉ nhờ ít khi "vung tay quá trán", và nghĩ trước sau thể nào cũng có ngày nghỉ hưu, nên cố để ra một khoản cần chi dùng nếu có dịp du lịch xa. Và ước mong lớn nhất của tôi trong chuyến viễn du là tìm được những cuốn sách ưa thích cần đến khi tuổi xế chiều.

*

Khi về đến nhà nghỉ vào lúc xế trưa, tâm trí tôi vẫn mải nghĩ về cuốn sách đã nhìn thấy trong tiệm sách gần nhà. Cuốn sách có tựa đề rất khó... diễn tả: "UỐNG LỘN THUỐC TIÊN", tác giả Bình Nguyên Lộc.

Thật khó diễn tả cảm nghĩ của tôi lúc nhìn thấy tác phẩm của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Thoáng xem thể loại là "Truyện", nên tôi dự định sẽ mua sau. Và xế trưa hôm ấy tôi chỉ kịp mua hai quyển tôi thấy cần đọc ngay.

Gặp anh bạn mới quen trong chuyến viễn du ở gần nhà nghỉ, qua vài lần làm quen và nói chuyện, tôi được biết hiện nay anh giảng dạy Anh ngữ cho một số người mới qua và anh có một thời viết một, hai tác phẩm từng được xuất bản vài năm trước.

Ngỡ gặp được văn nhân ưa chuộng văn chương chữ nghĩa, nên tôi vui mừng khoe với anh vài cuốn sách vừa mua. Thật chẳng ngờ nét mặt anh lúc âý thật dửng dưng, gần giống vẻ lãnh đạm của người chưa bao giờ làm bạn với những cuốn sách. Anh nói ngắn gọn và chẳng mặn mà cho lắm: "Sách, báo lúc này là những thứ chẳng cần thiết."

Ngẫm nghĩ kỹ, "khách quan và nhiều chiều" theo vài người đã nói, thì ta cũng không thể chê trách anh. Chợt nhớ vài năm trước, thời tôi còn làm trong một hãng nhỏ, có đến 2 năm tôi không đọc một cuốn sách nào. Thi thoảng một, hai tuần có đến thư viện trong vùng, cũng chỉ xem qua vài quyển tạp chí về đời sống. Ngày thường đi làm từ thứ Hai đến thứ Sáu, cuối tuần được nghỉ 2 ngày là thứ Bảy và Chủ Nhật còn nhiều việc cần làm cho bản thân. Nếu trong quãng ngày tháng ấy, có ai đưa tôi một, hai cuốn sách, có thể tôi cũng nhìn với ánh mắt dửng dưng thôi.

Thế rồi bỗng nhiên có một ngày, đến nay chẳng còn nhớ hôm ấy tôi có việc lên phố để mua thứ gì, và nhân tiện tôi rẽ qua thư viện. Khi xem qua vài số tạp chí, theo lệ thường, tôi qua nơi thường trình bày các tác phẩm mới xuất bản. Thật chẳng ngờ tôi nhìn thấy một cuốn sách có tựa đề "1001 Böcker Du Måste Läsa Innan Du Dör", (tạm dịch "1001 Tác Phẩm Bạn Cần Đọc Trước Khi Bạn Chết"), tác giả Göran Hägg.

Đọc xong tựa đề cuốn sách, tôi cảm thấy trong người nóng ran. Cái "sự đọc" từ thời trai trẻ của tôi trải qua vài chục năm bỗng dưng đứng sững lại khi nhìn thấy tác phẩm vừa xuất bản này. Và hôm nay gặp ngày rảnh rỗi, xin được "tường trình" qua về cuốn sách:


Hình bìa tác phẩm: Nhà văn ERMEST HEMINGWAY
sách dày 960 trang
Nhà xuất bản Wahiström & Widstrand
sách in lần đầu 2008

*

Tác giả GÖRAN HÄGG
(*Những tác phẩm của Göran Hägg đã xuất bản:
- Den Svenska literaturhistorien 1996
- Världens literaturhistoria 2000
- Svenskhetens historia 2003
và một số tác phẩm khác..)

**********************

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Vài Cuốn Sách và Những Niềm Vui ( 2 )



chiều tuyết
*


"Dù đường xa mưa tuyết và dù thể nào, hôm nay tôi phải đến được thư viện Thủ Phủ trong vùng để trả xong vài cuốn sách."

Vừa nhẩm lại trong đầu lời tự hứa ban sáng, tôi vừa nhanh chân bước về bến đỗ xe buýt. Tháng Ba tháng Tư, ở nơi đây, ngoài trời vẫn rét đậm. Gió lạnh Bắc cực thổi về với khoảng không gian giá rét lạnh tê mà có người gọi là "rét cắt da, cắt thịt". Những người đợi xe buýt đứng co ro trong giá lạnh và tuyết bắt đầu bay trắng trời, nhưng vừa lúc đó, chiếc xe buýt mong đợi đã đến.

Đúng 12 giờ trưa, xe rời bến chính. Và lúc 12 giờ 15 thì xe đến quảng trường trung tâm thành phố - nơi tôi thường xuống xe và lên xe tại bến này.

*

... Hôm nay, một ngày rét mướt và ngoài trời tuyết bay lượn giống y hệt ngày tôi đợi chuyến xe đường dài cách đây đã lâu. Cảnh tuyết bay ngoài trời làm tôi nhớ lại quãng đường thật xa và vài cuốn sách. Hồi ấy tôi còn học trong Trường dành cho di dân, tị nạn và cứ đến thứ Sáu (ngày học cuối trong tuần) học đến 12 giờ trưa thì học sinh được nghỉ; và từ trưa thứ Sáu đến sáng thứ Hai, là quãng thời giờ tự do thảnh thơi, rảnh rỗi. 

Một may mắn với tôi trong tháng ngày mới đến - vì lúc đó nhà ở cho thuê trong thành phố rất hiếm - nên người chuyên trách về bostad (nhà ở) tạm xếp tôi ở vùng ngoại ô, cách nơi học trong thành phố chừng 10 km. May mắn nói đến nơi đây là từ quãng ngày mới, mỗi tháng tôi có được một vé xe buýt, để hằng tuần đến trường học; và với vé xe buýt liên tỉnh này, tôi tha hồ đi đó đi đây ngoài những giờ học! Bởi thế, khác với các bạn học cùng lớp sống trong thành phố, tôi có nhiều dịp 'thơ thẩn' đến các thư viện trong vùng. Và hôm nay ghi lại đoản văn này để nhớ đến một cuốn sách mà tôi không bao giờ quên. Đó là tác phẩm, chỉ cần nhìn qua bìa sách, chắc chắn bạn sẽ không bao giờ quên... Tiếc thay ngày tháng ấy, tôi không kịp ghi lại hình ảnh của bìa một cuốn sách. Nhưng, đến ngày hôm nay, với những cần thiết tôi ghi chép lại từ cuốn sách, thực lòng tôi cảm thấy những ghi chép xa xưa vẫn còn nguyên giá trị.

*

Trở lại đoạn kể trên khi ngồi trong hai chuyến xe qua hai tuyến đường dài từ 12 giờ 15 phút đến gần 4 giờ chiều mới đến nơi thư viện Thủ Phủ trong vùng để trả sách. Và rồi không lâu sau đó, lại phải nhanh chóng ra ngay bến xe để về. Vì chừng 15, 20 phút sau, chuyến xe cuối cùng trong ngày sẽ chuyển bánh. Lỡ chuyến cuối này thì biết tìm nơi đâu (hoặc tiền đâu?) để lo cho thân lử khách?

Cuốn sách tôi phải đi, về gần mươi giờ ngồi trên xe buýt ngày xa xưa vừa thuật lại là cuốn "Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta". Sách được mượn đọc 1 tháng. Nhưng trong một tháng mượn về, tôi chỉ kịp ghi chừng nửa cuốn những gì tôi cho là cần thiết, còn nửa cuốn, gần cận ngày trả sách bỗng nhớ ra và 'khẩn thiết tự hứa' dù thể nào cũng phải trả xong sách trong ngày.

Ngồi trong chuyến xe buýt tuyến đường dài nơi gần cuối xe, tôi đã gắng ghi lại những cần thiết với những dòng chữ vội mải mà nay có dịp xem lại thì đã hơn 20 năm !

                                                                          

Bản ghi chép lúc rảnh rỗi
*

Bản ghi chép lúc vội mải

*
LỜI KẾT
Cám ơn tác phẩm tôi đã may mắn tình cờ mượn đọc và ghi chép lại.
Thành thật tạ ơn những người làm nên cuốn sách và cảm tạ nơi cho mượn sách.
Chắc hẳn do vội mải ghi chép nên khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong bỏ lỗi!
ĐA TẠ

*

VVHP

**********************

  



  

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Đôi Điều Ngẫm Nghĩ


Đôi Điều Ngẫm Nghĩ





  Thời gian trôi qua rất nhanh, "mới ngày nào tóc còn xanh mong đợi, mà nay thì..." Đôi khi nhìn lại mình trong những giờ phút 'biến đổi' cuộc đời, đó là lúc chuyển đổi nơi ở, và soi mình vào tấm gương đặt bên cửa ra vào, ta chợt nhận ra một quãng thời gian đã qua trong cuộc đời lữ thứ.

Gặp lại ông bạn tri kỷ năm xưa gần ngay nơi ở mới, tôi chỉ tay về hướng tầng lầu, hân hạnh giới thiệu nơi có 'dinh cơ mới' với diện tích khoảng hơn mười hai mét vuông (chưa tính đến diện tích phòng bếp, phòng vệ sinh..), nhưng may mắn thay có khung cửa sổ để đôi dịp chiêm ngưỡng rất nhiều cảnh người hiện diện thường ngày trên đường phố. Nhưng bạn tri kỷ để ý đến điều khác.  Theo ông, sống nơi chót vót cũng hay (chẳng rõ ông 'định vị' có đúng nơi chỗ tôi ở không), "ở tầng cao, được thở nhiều không khí trong lành và đêm về, nhìn ngắm những vì tinh tú gần xa" (chất thi sĩ năm xưa chăng ?). Ông nói thêm "nhưng, sống nơi các phòng ở áp mái cũng dễ bị chạm đầu vào những chỗ tường không cao. Tuy thế, ngày nay anh có dịp vận động cơ thể, bước lên bước xuống vài chục bậc thang lên lầu xuống lầu. Sức khỏe hẳn là mỗi ngày mỗi tăng lên rõ rệt. Đức Phật đã nói, sức khỏe là một trong những quí báu nhất đấy !"

Gặp bạn thiết trong một ngày mới se lạnh, tôi nhìn anh nói cười vui vẻ giữa khi mùa đông đang đến gần, tôi chợt nhớ câu danh ngôn nói về mùa đông: "Sự vui vẻ, sức khỏe, đổi mùa đông thành mùa hè."(Désaugiers)

Oktober 2015
Vân Võ Hoài Phương
**********************

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2015

Tết gần nhớ Tết xa. Tết nhớ bạn xa. Tết nhớ kỷ niệm đã qua.


Tết gần nhớ Tết xa. Tết nhớ bạn xa.

Tết nhớ kỷ niệm đã qua




  Kể từ ngày tôi vui hưởng dịp Tết đầu tiên nơi hải ngoại tính đến nay đã hơn hai mươi năm. Hơn hai mươi mùa Xuân. Hơn hai mươi lần Tết đến. Còn nhớ một lần Tết đến trong Trại tị nạn nơi xa vào một chiều ba mươi Tết. Nhóm bạn độc thân và trai trẻ, chừng hơn chục người, ngồi quây quần bên đống lửa, và vừa đàn vừa hát cho nhau nghe những bản nhạc quen thuộc của một thời kỷ niệm.
Trong nhóm bạn độc thân, có vài người là Thiện nguyện viên hoặc là người được ban giám đốc Trại chọn tuyển làm vài việc giúp sinh hoạt thường ngày. Đống lửa nhỏ đặc biệt chiều ba mươi Tết được tỏa ánh sáng ấm áp trên khoảnh nhỏ một triền cát ven đảo, cách xa những khu nhà lợp mái tôn trong trại, bên cạnh lối mòn dẫn lên trại trên và cũng không xa triền cát có ngọn lửa sưởi ấm là dãy hàng rào cao chạy dài theo một đường dài quanh đảo.
Tiếng hát, nhịp đàn hòa theo của bạn trẻ học sinh hay sinh viên một chiều gần Tết xa xưa hai mươi năm trước gợi cho tôi nhớ lại những kỷ niệm xa xôi... Một thời nhiều mộng mơ trêu đùa bạn học ngồi chung lớp; sau ngày thôi học bỗng nghe tin nàng lấy chồng, và chợt một hôm vào ngồi nghỉ bên một tiệm cà phê, người đem ly nước uống ra cho khách lại chính là cô bạn học thuở nào. ( Một tình yêu thuở học trò, vẩn vơ và ngoài tầm tay với...). Và có thể kể thêm một nhạc phẩm nữa tôi được nghe trong chiều gần Tết ngày trước đã  nói lên tâm tình giữa những người bạn thiết và còn lưu lại mãi trong tiềm thức của tôi có một đoạn lời thật tuyệt vời và tha thiết "hai người hai lối biết thương nhau mà thôi...". Ai từng sống qua thời tuổi trẻ, mỗi khi nhớ lại vài kỷ niệm đẹp của thời tuổi xuân- thời của những ước muốn, hoài bão và ưa thích gom góp hiểu biết - hẳn sẽ tự cám ơn ngàn lần quãng đời thanh xuân đã có.
Phút giây này hẳn là Tết đang đứng gần thềm năm mới, và theo các thi nhạc sĩ tình tứ và lãng mạn của chúng ta thì Nàng Xuân tuy gặp tiết trời se lạnh nhưng vẫn khoe dáng vẻ mảnh mai và diễm tuyệt. Hình như có đoạn lời hát nhiều người đã ̃thuộc "Xuân đã đến bên ta. Dáng Xuân tuyệt vời...". Ôi, chỉ giản dị trong một thoáng đến, thoáng nhìn mà Nàng Xuân trong tâm tưởng nhiều người đã quá tuyệt vời !


Hơn hai mươi mùa Xuân qua, nhưng tôi không thể quên kỷ niệm một chiều Tết đã xa. Nhớ những bạn trẻ năm xưa - những Thiện nguyện viên đàn và hát trong những ngày vui sinh hoạt văn nghệ trong Trại tị nạn. Phải chăng những bạn trẻ ngồi bên tôi ngày ấy, họ hát lên những lời ca đượm buồn và cũng đượm một tình yêu xa vắng để nhớ về nơi buồn thương họ đã phải rời bỏ ? Hay là, giữa một ngày cuối năm giá rét, những bạn trẻ ngồi bên tôi, đàn và hát lên những nhạc phẩm trữ tình để thấy lòng ấm áp thêm tình thương mến, hy vọng tới một ngày sáng tươi ?
Xin cám ơn quãng ngày qua, cám ơn quãng ngày tháng tôi có dịp sống bên những bạn trẻ trong một chiều Tết xa. Nhóm bạn trẻ Thiện nguyện viên ngày ấy từng bỏ nhiều công khó sửa sang lại một nhà kho hoang tàn nơi triền cát ven bờ đảo để làm một thư viện nhỏ và họ đã gom nhiều sách, báo, tạp chí từ những bằng hữu ở nhiều phương xa gửi về. Cám ơn những ngày tôi được mượn đọc nhiều sách, báo trong thư viện nhỏ của nhóm bạn thân thiết nơi xa.

18 . 02. 2015
Vân Võ Hoài Phương

 ********************** 


Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

ĐÔI ĐIỀU NGẪM NGHĨ ( 2 )

 
Đôi Điều Ngẫm Nghĩ ( 2 )
 
  "Bảy mươi còn học bảy mốt". Phải rất nhiều ngày sau tôi mới hiểu ra ít nhiều những lời anh đã nói với tôi ngày nào. Đến thăm anh hôm ấy, đúng vào ngày - theo lời anh nói - tính theo tuổi Tây, anh vừa tròn 'bảy bó', còn tính tuổi Ta, anh bảy mươi mốt tuổi. Tôi kính nể anh bởi anh có vốn hiểu biết rất phong phú từng thể hiện qua nhiều bài viết. Tuy sống đơn thân nhưng anh được nhiều người trong vùng kính trọng.
Còn nhớ, hôm tôi gặp anh là một ngày mùa hè. Với dáng nhanh nhẹn và vui vẻ, anh ra ra vào vào từ phòng khách đến phòng bếp, mang ra nhiều thứ bánh trái, phích đựng nước rồi đồ pha trà... Tôi ngồi lặng im nhìn ngắm anh, cảm thấy thật hiếm có những giây phút quý giá này trong đời. Còn anh, có thể anh coi tôi là một khách lãng du từ xa tới - và cũng có thể - với anh, hôm nay, anh có dịp hàn huyên, tâm tình hay nói ra những điều anh tâm đắc.
Sau một tuần trà, và sau vài lời hỏi han thân tình về đời sống gần xa, anh nói qua về "bảy mươi mốt mùa xuân xanh" của anh, nói qua vài nơi anh đã sống... Anh nói với tôi như nói với một bằng hữu đã có thời từng sống bên nhau, dù tôi kém anh gần hai mươi tuổi. Mà đúng thật, giữa anh và tôi, khi đó chẳng có gì ngăn cách, tình đồng hương xen lẫn tình ưa thích 'báo bổ'. Anh ngồi bên tôi, một người bạn lớn đã sống hơn bảy mươi mùa xuân, dày dạn kinh nghiệm trên trường văn, trận bút. Tôi ngồi yên lặng nghe anh nói, và hiểu ra anh vẫn còn nhiều nghị lực, trí tuệ vẫn tinh tường thể hiện qua lời nói và cách nghĩ. Nhìn anh, tôi thầm ước mong, sau này bằng tuổi anh, tôi gắng sống thế nào để có được phong thái tuổi hơn bảy mươi này. 
- Anh nên biết, tôi còn được dáng vẻ như ngày nay, vì tôi luôn tâm niệm...
Tôi rất muốn biết anh đã tâm niệm điều gì, nhưng anh nói sang một ý khác:
- Nếu tôi không bền tâm vững chí thì giờ này tôi còn ngụp lặn bên các vũng lầy đời thường rồi. Sống ở hải ngoại, nhiều thứ cám dỗ lắm và cũng dễ nhiễm nhiều thứ bệnh. Anh không tiền, không tình thì cũng khổ; mà anh chạy theo tiền, theo tình lại khổ thêm. Bệnh tật cũng nhiều thứ bệnh: bệnh ma bùn ganh ghét nhau, bệnh hám danh và nhiều thứ ngộ nhận.
Quả thật ngày ấy tôi không hiểu hết những lời anh nói, có thể là do một phần tôi ít va chạm với nhiều người sống trong xã hội, thiếu sự từng trải nên chưa có dịp để chiêm nghiệm. Đến nay muốn gặp lại anh để nghe thêm những lời tâm tình của anh thì anh đã sống như một ẩn sĩ. 
Những ngày này, xem trên Net, tôi thấy ra một hình ảnh khiến tôi luôn nhớ về anh. Nhớ lần gặp anh và nhớ những lời anh đã nói từng được ghi lại trong một cuốn băng hình kỷ niệm.
 
*
 
   Trong chuyến du lịch xa mùa hè năm ngoái, khi bước vào trong một tiệm sách, tôi chợt trông thấy cuốn sách của một học giả rất được nhiều người đọc sách kính trọng. Nhìn tựa sách, tôi bỗng nhớ đến những dòng ông viết trong tác phẩm Để Thành Nhà Văn: "Lời nói đây là lời nói chân thành. Tôi chỉ viết khi nào tôi cảm thấy cần phải nói lên một điều gì thôi." 
Tác phẩm trên của học giả Nguyễn Duy Cần, tuy số trang chưa đến hai trăm trang và một điều, cần phải nói, theo nhận biết riêng tôi, hiểu thấu "điều" tác giả trình bày, chắc hẳn không dễ chút nà̀o.
Nói, nghe và hiểu - xưa nay nhiều người thường nghĩ đến. Có ai đó còn cho rằng muốn hiểu người nào, phải nghe họ nói. Thế nhưng ở nhiều nơi, đôi khi có người "nói xuôi", có người "nói ngược". Còn người nghe ? Có thể đôi lúc xảy ra tình trạng người nghe cảm thấy mếch lòng, tự ái bởi hiểu sai lạc mặc dù người nói, nói đến một vấn đề khác, chẳng dính líu đến mình. Đây là một thực tế nhiều người đã biết. Chợt nhớ lại trên trang nhà một nhạc sĩ nổi tiếng. Ông kể lại ( hay sưu tầm ? ): có một cặp vợ chồng ngồi nói chuyện vãn ( kẻ viết chỉ còn nhớ đại ý..). Chồng nói: "Ở đời, có người nghe chuyện nói ở đẩu ở đâu, lại cứ nghĩ người ta ám chỉ mình." Vợ nhìn chồng, nói: "Ông nói như thế, có phải ông định ám chỉ tôi không ?" Theo tôi nghĩ, đoạn kể trong trang nhà nhạc sĩ rất hay, rất đúng thực tế đôi lúc xảy đến và hài hước, xen đôi chút trào phúng thấm thía. Vấn đề đặt ra ở đây đúng thật là sai một li, đi một dặm. Hiểu sai, dẫn tới mối thiện cảm gãy đổ, tình nghĩa chẳng còn và rồi mỗi người đi một ngả. Qua việc này giúp nhiều người nhìn lại và hiểu thêm, thực tình có nhiều đôi vợ chồng chỉ vì một bất hòa nho nhỏ, một tự ái vớ vẩn hoặc một sĩ diện cá nhân mà bỏ uổng, lỡ phí hạnh phúc gia đình... Lời Đức Phật từng khuyên Kẻ nào chỉ cho ta khuyết điểm của ta, kẻ đó đã chỉ cho ta một kho vàng !
 
*     

 
   Mùa hè năm ngoái, một bạn thân hồi còn trẻ đến thăm tôi. Anh có hai con gái và lấy chồng bên này. Anh tuổi Tuất và hơn tuổi tôi ít nhiều. Thực lòng tôi không quá tin những việc  chẳng hạn câu ... đến nhà thì khó, hoặc câu ... đến nhà thì sang. Nhưng sau lần anh đến thăm tôi, nhiều việc đến với tôi có vẻ thuận lợi, nói đúng ra thì may nhiều hơn xui. Trong lúc nâng ly bia nhẹ chúc mừng, nhớ chuyện tình cũ của anh, tôi khẽ nói đùa vui: " Này, cái cô gái ở đầu ngõ xóm, thỉnh thoảng vẫn nhớ đến anh và kể rằng, thời tuổi trẻ anh thường đi theo cô ta và hát cho cô ta nghe một bản tình ca ngày trước." Bạn tôi cười: "Hình như tựa đề bản tình ca đó là Xin một ngày mai có nhau..." Chẳng ngờ, lúc này bà xã của anh nghe thoáng chuyện hai chúng tôi, bả nói với chồng: "Thôi anh ơi. Ngày nay xin anh ca bài 'Xin một ngày mai được ở nhà dưỡng lão' !" 
Nói xong câu nói vui, bỗng nhiên bà vợ bạn tôi liền ngồi gần lại bên chồng, âu yếm xoa nhẹ tấm lưng gày còm và vuốt ve bờ vai tuổi gần bảy mươi xuân xanh của anh, bả dịu dàng nói: "Ồ̀, lúc này anh vẫn còn phải chăm nom mấy đứa cháu ngoại. Con cháu anh đâu dễ cho anh đến nghỉ ở nhà dưỡng lão! Phải không, hiệp sĩ của đời em."
 
VVHP
 
**********************  




Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

ĐÔI ĐIỀU NGẪM NGHĨ ( 1 )

 
Đôi Điều Ngẫm Nghĩ  ( 1 )
 
 
  Bạn tôi viết vài dòng trong thư và nhờ "Net" chuyển đến tôi. Thư viết ngắn và g̣ọn, chừng mươi dòng, như một lời nhắn gửi. Cuối thư, có lời chúc và mong "mọi điều tốt đẹp" đến với tôi. Đúng ra, theo tôi hiểu, lời chúc cũng là lời từ biệt, gần giống câu hát "vẫy tay, vẫy tay, chào nhau. Một lần đầu và một lần cuối..." Và lúc này, tôi là người đứng lại để nhìn những vẫy tay của người từng gắn bó nhiều kỷ niệm trong đời với mình.
Sau lúc nhận được thư và đọc những dòng chữ từ phương xa "bay" đến, tôi sống trong niềm bâng khuâng, đi ra đi vô hoài, có cảm tưởng vừa sống qua vài phút chia tay với một bạn thiết đã có thời cùng bước chung đường, những câu trêu đùa vẫn còn đó và tiếng nói dịu ngọt vẫn còn đây...
Vẫn còn nhớ tới nhau và viết vài dòng cho nhau. Những giây phút trân quý tình bạn hữu ấy, hay tình cảm hai người cảm mến nhau - với tôi - là những giây phút huyền diệu. "Một người ngồi nhớ một người", trong khi, người kia lại không biết đến. Rồi lá thơ bay đi, người nhận thư lại ngồi nhớ đến người đã viết vài dòng chia sẻ, tâm tình. Chợt nhớ, khi xưa một bạn văn kể tôi nghe một giai thoại về những lá thư. Thật ra, anh chỉ kể về lá thư thứ hai, còn thư thứ nhất, người nghe tự hiểu. Theo lời kề ngắn gọn của anh, thì cuối lá thư thứ hai, người nhận thư đọc được một dòng:
"Anh nói anh không còn yêu tôi nữa, cớ sao thư anh viết nhiều chữ đến thế này ?"
Tôi từng nhận được vài lá thư bạn hữu gửi đến. Trong một hai thư có cả tiếng cười "híc, híc"- trước cả thời nhiều người đã đọc hai chữ "he, he" hiện giờ ! Có thể người viết thư, viết đến đoạn này, bỗng cảm thấy một niềm vui cần chia sẻ, thốt lên tiếng cười và viết tặng bạn xa không chừng. Mới đầu, đọc đến hai chữ "híc, híc", thật lòng tôi cũng hơi ngạc nhiên. Nhưng sau nghĩ lại và thử đặt mình trong tâm trạng bạn viết lúc ấy, tôi cũng thấy vui vui. Tôi hiểu thêm ra niềm vui cần được chia sẻ mỗi thời mỗi khác, tuy nhiên cần mang lại tiếng cười cảm thông và không đến nỗi "quá tệ" như có ai đã nói. Đến nay, mỗi khi nhớ đến "híc, híc", "he, he" tôi cảm thấy một niềm vui xốn xang như thời tôi còn trẻ. Đời có vẻ như đẹp thêm ra bởi trong giây phút nào đó ta bỗng nhớ lại một kỷ niệm vui và mỉm một nụ cười tươi trẻ...
Người ta thường nói, tuổi trẻ nhiều niềm vui và sôi nổi; còn người có tuổi thì hay suy nghiệm, ngẫm nghĩ. Phải chăng hai vẻ đẹp này luôn hiện diện ở nhiều nơi.
 
Vân Võ Hoài Phương
 
**********************   
 
 
    



Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Đường Xa Văn Nghệ ( 2 )

 
 
Đường Xa Văn Nghệ ( 2 )
 
 
 
 
 

Về nhà vài ngày sau chuyến viễn du Hoa Kỳ lần thứ hai, trong khi nhớ lại những kỷ niệm qua chuyến đến thăm, tôi thật thấm thía câu nói: có đến mới biết, có học mới hay. Thường sau một chuyến du lịch xa, người ta hay ngồi ngẫm nghĩ về đôi điều mới biết và nhớ đến cái mới lạ vừa học hỏi được. Còn tôi, trong quãng ngày sống nơi đất trời Cali, những người tôi có dịp tiếp xúc nhiều nhất thì lại luôn bận việc; riêng tôi thầm nghĩ, lúc này nhìn ai cũng bận bịu, mình chẳng nên gây phiền nhiễu đến ai. Vì thế nên nhiều việc tôi muốn biết, muốn hỏi để có dịp học, biết thêm đành phải tự tìm hiểu. Hôm nay ngồi nhớ lại những kỷ niệm trên đường phố Bolsa cách nay một hai tháng, tôi cảm thấy trong lòng rộn lên nhiều niềm vui tựa như trước đây vài phút tôi vẫn còn đứng nán lại bên đường Bolsa để ngắm nhìn nhiều cảnh hay, đẹp và nhìn bầu trời xanh lãng đãng mây bay...
Trong dịp đến thăm một địa danh rất nổi trội và hấp dẫn vui thích nơi đây, tôi có dịp may gặp đúng một ông "Bắc Kỳ di cư" ngày trước. Ông nói giọng Bắc, nhưng đến khi dẫn tôi ra thăm mảnh vườn của ông, ông bảo: "Dạo này tôi làm biếng nên vườn nhà tôi thế này đấy." Tôi không thể không cười và ngước nhìn ông. Ông nói tiếp, "Trái trên cây chín đầy vườn, anh muốn ăn trái nào cứ trẩy." Một buổi trưa, lúc tôi từ tầng trên xuống phòng khách và đang định ra phố, tôi gặp ông đứng gần phòng bếp, ông nói: "Chừng 5, 6 giờ chiều, anh phải ở nhà. Nhà tôi hôm nay mở tiệc." Tôi nói với ông: "Để em ra phố, mua vài xách nước uống vui." Ông vỗ vai tôi: "Thôi, đừng bày vẽ!" Ông nói thêm: "Anh không được mua một thứ nước uống gì đấy." Riêng tôi rất kém và dở tệ về khoản say sưa nên chẳng áy náy nhiều và sau đó chỉ mua ít trái cây gần nhà để vui dùng sau bữa tiệc. Không ngờ bữa tiệc gia đình chiều tối đó vui tưng bừng, và một điều tôi không ngờ nữa là trong bữa tiệc chỉ có ông và tôi là dân Bắc, còn thân quyến và thân hữu của ông đến dự tiệc toàn là dân Nam! Tôi chưa từng dự một tiệc nào đặc biệt có nhiều 'nhân vật' đáng được chiêm ngưỡng và được lắng nghe họ nói một cách rất đã đến thế, nên tôi thực ưa thích quang cảnh và bầu không khí vui vẻ của bữa tiệc, nhất là được nghe ngôn ngữ của nhiều vùng khác nhau...  Niềm vui của một gia đình hòa thuận với nhiều tình cảm quý mến vui mừng nhìn nhau trong ánh mắt.

12. 2013
Vân Võ Hoài Phương

**********************  

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Vài Cuốn Sách Và Những Niềm Vui ( 1 )


Vài cuốn sách và những niềm vui ( 1 )
 
*
 
  Những cuốn sách được xem là hay, và làm xao xuyến tâm hồn mê sách của vài nhà sưu tập sách hiện thời thì trong kệ sách nhỏ của tôi chỉ có mươi cuốn, trong khi đó các bạn tôi, người thì có đến vài mươi cuốn, kẻ lại có trên vài chục cuốn, vài trăm cuốn sách. Ngày nay, như nhiều người biết, không ít người coi sách là thứ phù phiếm. Thế nhưng tại sao trên đời vẫn có những kẻ mê mải sưu tầm sách, hơn nữa, vẫn có người bỏ cả một đời người để viết sách và lo in sách? Và tại sao, hình ảnh một người với trên tay một cuốn sách, dù kẻ này ngồi đọc sách ở nơi chờ xe bus, hoặc trong khuôn viên rợp mát, cũng làm người ta cảm nhận một vẻ đẹp văn hóa, một điều gì đó tuy không cao xa nhưng rất đáng trân quí ?
 
*
 
Cuốn Litteraturhandboken gần 900 trang,
giới thiệu trên 2.000 tác giả, người viết sách
nổi tiếng trên thế giới cùng nhiều tài liệu văn chương..
Bià sách thiết kế đã thể hiện nội dung cuốn sách. Theo vài chuyên gia am tường về bià sách thì
"bià sách là một tác phẩm nghệ thuật" và từ gần 100 năm nay, các nhà xuất bản phương Tây rất
 coi trọng việc thiết kế bià sách để "đem đến cho công chúng được thưởng thức thêm nhiều tác
 phẩm giá trị về mỹ thuật..."
 
*
  " Sách là cây đèn thần soi sáng cho con người trên những nẻo đường xa xôi nhất và tăm tối nhất của cuộc đời."
    " Không cần đọc nhiều sách mà đọc những sách có ích." 
 Hai câu châm ngôn trên, người viết có dịp ghi lại nhưng tiếc thay đến nay vẫn chưa biết tên tác giả. Xin có đôi lời thành thực nơi đây.  
Trong các cuốn sưu tầm & tuyển chọn danh ngôn / châm ngôn như nhiều người biết thường có nhiều lời hay ý tốt cần ngẫm nghĩ; và nhiều người vẫn biết là từ xưa đến nay có không ít văn nhân, học giả... nói về việc đọc sách. Học giả Nguyễn Duy Cần (1907-1988), gốc gác quê Mỹ Tho, Tiền Giang từng có lần đánh giá và nhận xét: "Muốn thành nhà văn cũng cần phải đọc sách cho thật nhiều. Tôi chưa từng thấy một nhà văn nào mà đọc sách ít hay không thích đọc sách."
Để Thành Nhà Văn / tác giả: NGUYỄN DUY CẦN )
Những năm gần đây, người ta thường đọc trên Net, có nhà văn hoặc vài cây bút than vãn về việc "bí đề tài", hoặc "biết viết gì đây giữa khi tình đời đôi lúc chênh vênh trắc trở.."
Có thể đoạn văn ngắn sau đây của học giả Nguyễn Duy Cần đã gợi mở một hướng "hay nhất" cho những ai từng theo đuổi nghiệp viết:
" Đọc sách sẽ giúp ta nẩy sanh nhiều ý tưởng bất ngờ, đó là nguồn-cảm hay nhất cho nhà văn, không bao giờ làm ta cạn hứng."
( Sách đã dẫn )
....
********************
  

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

Kỷ Niệm Mùa Hè

 

Kỷ  Niệm  Mùa  Hè
 


Bầu Trời Xanh Mây Trắng Nơi Xa
 
 Bạn có đến thăm Thụy Điển vào những ngày này, chắc hẳn bạn sẽ biết là ít có nơi nào, xứ nào trên thế giới người ta ưa thích mùa hè hơn những người dân sống nơi đây. Tháng 6 và tháng 7 là hai tháng nắng hè rực rỡ nhất tại Thụy Điển; đặc biệt tháng 7 là "tháng semester" của rất nhiều người, đây là kỳ nghỉ phép hằng năm với những ai đi làm và nhiều hãng, xưởng nơi đây trong tháng 7 cũng 'đóng cửa'  nghỉ hẳn một tháng. Nhiệt độ ngoài trời ban ngày gần những vùng nơi tôi ở thường thường trên dưới 20 độ C, không đến nỗi nóng quá và chẳng lạnh. Dân chúng, từ người tóc đã đổi màu đến thanh, thiếu niên mới lớn thản nhiên và thoải mái trong các kiểu áo ngắn tay và quần soóc lửng ( kiểu quần hai ống ngắn ngang bắp chân ) "khoe cẳng, khoe giò khắp nơi gần chốn xa" - lời của anh bạn vui tính nói hôm nao, và - "từ xưa đến nay, đông che hè mở là chuyện thường tình." Ngẫm nghĩ thì thấy ra, chuyện nóng, lạnh của thời tiết đôi khi cũng làm cho ai đó vừa cười vừa kín đáo đưa mắt nhìn quanh...
Khi người ta nói thời tiết, tức là nói đến "các diễn biến về không gian trong hiện tại hoặc tương lai gần." Và vẫn theo Wikipedia tiếng Việt thì "thời tiết là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển." Thời tiết vài ngày qua nơi vùng tôi có mưa và gió, không hẳn hoàn toàn chỉ có nắng. Mưa xuống làm cây cỏ thêm tươi tốt; còn có thêm gió nhẹ cũng làm bầu khí quyển thoáng đãng hơn và giúp cây cối đứng vững, dẻo dai hơn. Cũng may là thời tiết những ngày vừa qua mưa thuận gió hoà và dân chúng được nghỉ lễ vào dịp cuối tuần nên nhiều người hẳn là cảm thấy dễ chịu.  Mùa hè đã đến và còn ở lại vài tháng nơi đây. Những ngày semester vui và nhiều kỷ niệm.
 
Vân Võ Hoài Phương  
  


Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Những Ngày Mưa Nắng ( 2 )

 
Những  ngày  mưa  nắng  ( 2 )
 
*
 
  Những năm đầu mới đến Xứ Lạnh, sau các giờ học, tôi đến thư viện và có hôm ngồi trong phòng đọc sách đến khi nhìn ra ngoài trời thấy một màu tím hoàng hôn, biết là không thể ngồi chúi mắt chúi mũi vào sách báo hơn được nữa mới đành ra về. Một hôm cũng vào một ngày mùa hè nắng đẹp như hôm nay, tôi về đến nhà sớm hơn những ngày trước và nhận được một bì thư khá nặng tay. Trong bì thư có một trang thư của người gửi và vài ắn bản tạp chí Tự Do.
Người ta thường nói, mỗi người có một đam mê riêng, và tôi cũng có đam mê nhỏ nhoi là ưa nghe nhạc và thích xem sách, báo. Bởi vì thế nên tôi rất vui khi nhận được tạp chí gửi tặng và niềm vui rộn ràng hơn nữa khi biết ra lá thư gửi trong bì thư là của ông chủ nhiệm danh dự Hội Văn Hóa Việt Nam tại Thụy Điển. Sau này có dịp gặp gỡ thân thiết hơn, tôi được biết thêm 'những đoản thiên hồi tưởng' về một bỉnh bút xuất sắc và cũng là một dịch giả từng chuyển ngữ nhiều bài thơ để lại ấn tượng đẹp và nhiều cảm xúc khó quên nơi người đọc. Một quen biết tốt lành đôi khi đem đến nhiều điều hữu ích và ưa thích. Sau này, có một, hai lần đi bên ông thăm phố phường nơi ông sống, tôi có cám tưởng như đi bên người anh quí mến của tôi trong những ngày tôi còn ở quê nhà. Tình cảm ông dành cho tôi có một chút gì đó rất thân thiết, như tình cảm người anh lớn dành cho đứa em út trong gia đình. Ông chia sẻ với tôi những trải nghiệm trong đời làm báo, dịch thuật và tôi còn nhớ, có một lần ông kể cho tôi nghe về một chuyện tình, ánh mắt ông nhìn xa xa tưởng chừng người trong mộng một thời của ông còn ngồi nơi đó và vẫn còn vương vấn tình cũ nghĩa xưa...
Khi mở bì thư ra, tôi thật tình chưa hiểu tại sao ông chủ nhiệm danh dự tạp chí Tự Do ưu ái gửi thư và gửi tặng tôi vài số tạp chí. Qua vài dòng thư ông viết, tôi được biết, trong một dịp vui họp mặt đồng hương và thân hữu, ông tình cờ gặp một đứa cháu của tôi và qua lời thăm hỏi, ông biết tôi có tham gia sinh hoạt văn nghệ với vài văn, thi hữu Âu châu. Sau đó, theo địa chỉ đứa cháu tôi ghi lại, ông đã gửi thư và tạp chí Tự Do đến tôi.
Lúc này tôi chẳng thể nhớ thật đúng nhiều việc đã đến trong quãng ngày vừa kể. Chỉ nhớ là ông vẫn gửi đến tôi những số báo mới ấn bản, thư thăm hỏi và vài lần điện thoại đến tôi. Ông hơn tôi quãng chừng trên mười tuổi, và qua lời ông kể lại, tôi được biết thời thanh niên ông sống tại Sài Gòn, đúng ra là từ năm mười lăm tuổi và sống nơi đó đến ngày ông ra đi trên một chiếc thuyề̀n vượt biển. Ông vẫn còn giữ được những nếp xưa của đời sống phong lưu nơi đô thị, vào các ngày lễ vui đón Giáng sinh và Xuân mới, ông vẫn gởi những tấm thiệp màu sắc vui tươi đến tôi. Tuy ông sống đơn thân nhưng cách trang trí, trưng bày trong ngôi nhà ông rất đáng nể phục. Trong phòng khách của ông có bốn bức tường thì hai phía tường trưng bày sách. Sau bộ bàn ghế tiếp khách đặt giữa phòng là một kệ để các loại tạp chí. Một tủ toàn sách tự điển cao ngang đầu người đặt gần cửa bước ra vườn. Mảnh vườn nhỏ vài chục mét vuông nhưng có một luống rau xanh ( rau cải đắng, ăn sống rất ngon ! ). May là nơi ông ở cách xa thành phố lớn khoảng 12 km, nên tiền thuê nhà không nhiều và đặc biệt nơi đây gần trường đại học nên việc dùng Internet thuận lợi, đó là điều tôi ưng ý nhất.
Cảm khái bởi những ân cần quí mến của ông, một hôm vào ngày nghỉ cuối tuần, tôi tìm lại trong 'ngăn kéo' vài truyện ngắn chưa viết xong, chọn ra một truyện ngắn viết tiếp và sau đó gửi đến ông. Thực ra, phần đầu truyện ngắn Thương Một Cuộc tình tôi đã viết xong từ hơn mười năm về trước, nhưng thực tình tôi không thể mường tượng nổi số phận hai nhân vật trong truyện sau này sẽ ra sao ? Ngày còn sống trong trại tỵ nạn, tôi có gửi truyện ngắn này đến một tòa soạn tạp chí Việt ngữ bên Đức, sau đó được tặng một số tạp chí, nhưng không rõ truyện ngắn này đã được đăng hay chưa? Ai đã từng viết nhiều truyện ngắn chắc hẳn biết rằng có vài truyện ngắn rất khó viết đoạn kết, có truyện ngắn chỉ viết xong một nửa truyện, rồi cứ để mãi trong 'ngăn kéo'. Đây có thể là một trong những bí ẩn về kỹ năng viết truyện ngắn mà tôi nghĩ là đến nay vẫn ít người lý giải  hay 'giải mã' một cách vừa ý. Riêng tôi, tôi nghĩ là nên để nguyên một truyện ngắn viết chưa xong vào trong 'ngăn kéo' ( nếu truyện ngắn đó còn mãi nhắc nhở với người viết.. ), còn hơn là viết theo lối "viết quấy, viết quá" cho xong. Kết quả là làm hỏng một tác phẩm. Chợt nhớ có ai nói, có tác giả được người đời nhớ đến chỉ cần có một tác phẩm. Vậy thì để lại một nửa tác phẩm giá trị có hơn không ? Và chờ một ngày đẹp trời nào đó sẽ viết tiếp để hay hơn. Tôi thành thực tin chắc là hiện vẫn còn nhiều truyện ngắn để trong 'ngăn kéo' của nhiều người ưa thích viết thể loại truyện ngắn.
Xin trở lại vài dòng về truyện ngắn Thương Một Cuộc Tình. Mùa hè năm đó, tình cờ tôi được bạn bè kể cho nghe một câu chuyện về một đôi vợ chồng trẻ. Và tôi ngẫm nghĩ dùng 'chất liệu' nghe được làm đoạn kết truyện ngắn, nếu tôi nhớ không nhầm thì có một nhà văn nổi tiếng gọi kỹ năng này là biến cải tài liệu.
Có thể nói, truyện ngắn Thương Một Cuộc Tình có đoạn kết nhiều bạn đọc ngày nay một phần mang trong đó hình ảnh kỷ niệm của những người ly hương, kỷ niệm về tình yêu, tình bạn.
 
 
 
*Truyện ngắn Thương Một Cuộc Tình
cũng đã đăng tải trên một tạp chí có nhiều bạn đọc tại Châu Âu
trong số ra đặc biệt năm 2000. 
 
**********************

         


Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

Hương Chanh Hương Huệ Năm Nào

 
 
Hương  Chanh  Hương  Huệ  Năm  Nào
 
 
  Một hôm chợt nhìn vài chùm huệ trắng, vài hoa chanh nhỏ tỏa hương dìu dịu trong một tiệm bán cây cảnh và hoa tươi gần nhà, tôi chợt nhớ đến hương chanh, hương huệ của một ngày xuân năm nào...
 ... Từ ngày về nhà chồng, vì bận rộn việc nhà việc cửa và lo cơm nước gia đình, rồi có thêm vài đứa con nhỏ nên chị lớn của tôi ít khi có dịp về thăm bố mẹ và anh em chúng tôi. Thế nhưng thường vào dịp đầu năm, trước Rằm tháng Giêng một tuần, vào một ngày họp mặt Tân niên bố tôi đã định trước, thì thể nào chị lớn của mấy anh em chúng tôi cũng về dự vui chung với gia đình. Thời con gái, chị có mái tóc dài chấm ngang lưng. Còn nay, chị búi tròn một búi tóc gọn gàng sau gáy. Chị ưa gội đầu bằng vài nắm lá thơm dùng để tắm gội vẫn bán ngoài chợ. Nắm lá thơm gồm lá bưởi, vài nhánh mùi cỗi, vài quả bồ kết và một hai nhánh sả. Mỗi khi chị có dịp về qua thăm nhà, lúc chị vừa bước vào đến cửa, nhiều người đã nhận ra hương thơm đặc biệt của những thứ lá thơm quen thuộc và hương chanh thơm thoang thoảng dễ chịu. Có lần nghe chị nói, gội đầu bằng lá thơm và thêm một chút cốt chanh, đầu sạch hết gầu và người thêm khỏe.
Ngày họp mặt tân niên, chị dâu, vợ anh trai tôi cũng đến. Khác hẳn với chị lớn, chị dâu nhỏ người hơn, tính tình hòa dịu hơn và là người ít nói. Chị lớn, qua nhiều năm buôn bán có sạp nhỏ ngồi trong Chợ Sắt, tiếp xúc và giao thiệp với đủ hạng người nên từng trải nhiều trong cuộc sống. Chị chưa đến mức thuộc loại "con ruồi bay qua, biết ngay là con đực, con cái", hoặc ăn nói kiểu đanh đá cá cầy chỏng lỏn, nhưng cách sống của chị thể hiện bản lĩnh ưa tính thiện, với vài việc ngang tai trái mắt  ít khi chị bỏ qua; chị chơi thân với cả người bên Đạo và bên Đời, tuy nhiên tâm tính chị cởi mở nên cũng có khi lời nói của chị pha âm hưởng trào phúng. Những lúc ngồi nghe chuyện của chị, bố tôi cười khoái lắm, nhưng thực tình ông không dám cười to, còn mẹ tôi, bà ngồi nghe với vẻ điềm tĩnh như gắng tìm trong lời kể một vài ý nghĩa nào đó. Tính chị lớn không ham làm giàu, hơn nữa thời cuộc ba, bốn chục năm về trước kiếm sống nuôi đủ gia đình đã là khó, kẻ giàu người có chỉ đếm trên vài đầu ngón tay. Tuy vậy, những người buôn bán ngồi chợ vẫn sống 'dễ thở' hơn, nghĩa là không đói hoàn toàn, ít nhiều cũng được bữa no bữa đói. Mỗi lần nghỉ một hôm ngồi chợ vì ngày đó chợ có đợt kiểm tra và tịch thu nhiều loại hàng hóa, chị lớn có việc và ghé qua thăm nhà. Mẹ tôi hỏi về chuyện chợ búa lúc này ra sao, chị thường nói một câu mà thời đó nhiều người vẫn nói: "Buôn bán kiểu này chẳng khác gì nó vỗ cho béo để nó làm thịt." Có thể chị đã thấy hiện tình đó nên chị không ham hố làm giàu chăng? Sau này, những vụ đầu cơ buôn lậu và hối lộ móc ngoặc thuộc loại chuyện thường ngày, sạp hàng chị tôi vẫn chỉ đủ nuôi sống gia đình vì bản tính chị không ưa thích sống theo chiều hướng đó. Chị có một may mắn lớn nhất trong đời, theo tôi hiểu, là chị gặp và sống hạnh phúc với người chồng tính tình hiền lành mà chị suốt đời yêu thương.
Anh rể tôi, gốc gác người Hà Nội. Ngày trước, nghe nói bố anh là nhân viên Sở Điện Lực Hà Thành. Sau, Hải Phòng có thêm nhà máy phát điện Cửa Cấm nên bố anh chuyển về sống tại Đất Cảng. Có thể là, cái gốc tích gia đình anh, những người đích thực gốc đế đô thanh lịch vẫn còn đậm chất hiền hòa trong con người anh. Anh làm rể gia đình đã vài chục năm, nhưng chưa khi nào tôi thấy anh tỏ ra nóng nảy, to tiếng. Tính nết chị tôi nhiều khi cương quyết, còn anh lại rất đỗi nhẹ nhàng. Gặp ngày ít việc và hàng họ rơi vào vài ngày mưa dầm gió bấc, tôi thường đóng cửa tiệm sửa đồ điện của mình và  qua thăm gia đình chị lớn và anh rể. Tôi và anh rể gần như hợp tính nhau. Còn anh rể tôi, mỗi lần thấy cậu em vợ đến thăm thì vẻ vui mừng hiện rõ trên gương mặt.  Nếu hôm tôi đến thăm, gặp chị tôi cũng chưa đi chợ hoặc có việc cần làm ở nhà thì ngày đó hẳn nhiên anh rể được tự do ngồi chơi sơi nước, bỏ qua một bên những chuyện sai vặt. Vì lẽ đó, anh có phần đặc biệt quý mến và rất vui mỗi lần anh và tôi ngồi nói vài chuyện.  
Mỗi lần qua thăm gia đình chị lớn, tôi được biết thêm chị tôi thường có tính hay thay đổi đồ đạc hoặc di chuyển bàn ghế. Phòng ngoài diện tích chỉ chừng hơn chục mét vuông, đặt vừa một chiếc tủ dài và một bộ bàn ghế là hết chỗ, thế nhưng nửa tháng sau, chiếc tủ dài đã chuyển vào phòng trong và bộ bàn ghế đã đặt ở ngoài sân. Và nửa tháng sau, bốn chiếc ghế dựa cao lồng ngồng và chiếc bàn hình chữ nhật đã được thay thế bằng bộ bàn ghế thấp bên chiếc bàn mặt kính. Nửa tháng sau nữa lại thấy một cảnh khác hẳn... Anh rể tôi than: "Đáng lý ra, chị của cậu phải làm nghề đổi phông cảnh trên sân khấu mới đúng !" Mấy đứa con của anh chị tôi lại ưa thích những thay đổi này. Riêng tôi nghĩ, những thay đổi cảnh trí và mầu sắc trong nhà có thể giúp cuộc sống phóng khoáng hơn. 
Còn về chị dâu tôi thời đó cũng giống nhiều phụ nữ khác sống cùng khu phố, và một công việc vẫn thường thấy với nhiều phụ nữ là vào tổ đan len, đan những chiếc áo len để xuất khẩu sang các nước cộng sản. Ngay thời đó nhiều người đã biết, nghề đan áo len là một nghề tuy nhàn nhã nhưng rất khó nuôi nổi một nhà nghèo đông con.  
Sinh trưởng trong gia đình chỉ còn mẹ và em trai nên tính chị dâu tôi cũng ít nói. Chị có mái tóc bồng bềnh chấm ngang vai như nhiều phụ nữ thời ấy. Chị không vướng bận con nhỏ nên dáng dấp chị lúc nào cũng thong thả. Chị có tài làm vài món ngon đặc biệt được bố mẹ chồng và anh em chúng tôi rất tán thưởng trong nhiều bữa tiệc gia đình. Đó là món nộm xu hào cà rốt trộn lạc cay chua rất tuyệt vời. Còn món nem thính cuộn rau xanh ăn với tương ớt cay ngọt của chị thì hết chê ! Nói ngắn gọn là chị đã đem về nhà chồng một "tài sản" hiếm quý, gồm tài nghệ khéo tay làm vài món ngon thơm lừng và rất được dân ưa nhậu trong nhà mến chuộng.
Trong ngày gia đình họp mặt tân niên, bên túi đồ riêng chị đem đến nhà chồng, chị còn mua một chục huệ trắng để mẹ tôi đặt trên bàn lễ Gia tiên. Mẹ tôi, đương nhiên là rất quý cô con dâu này. Bà cũng giống chị dâu tôi, ưa chuộng hương thơm thuần khiết của những bông huệ trắng...
 
V V H P
**********************  


Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013

"QUA GIÊNG, ĐỜI TA SỐNG YÊN LÀNH"


QUA GIÊNG, ĐỜI TA SỐNG YÊN LÀNH


 

  Những năm tôi còn rất trẻ, gần đến một dịp Tết, tôi vẫn thường nghe câu nói: “Tết nhất sắp đến nơi rồi, làm việc gì cũng nhanh tay nhanh chân lên!” Từ 23 Tháng Chạp, ngày ông Táo lên chầu Ngọc Hoàng, người ta đã gọi là ngày 23 tết. Tiếp theo sau, gần hết năm cũ, có các ngày 28, 29 tết. Và sau hết là ngày 30 tết. Giờ giao thừa qua là ngày mồng một tết, rồi mồng hai mồng ba tết. Có người ngồi bấm đốt ngón tay tính ra những ngày gọi là “ngày Tết”, tạm kể sơ sơ cũng chừng trên dưới mười ngày. Sau khi tính ngày theo kiểu ‘các thầy muôn năm cũ’, ông này như vừa tìm thấy một chân lý mới, cười: “Vậy thì ‘cụ cố’ nào nói câu: Làm lụng quanh năm, vui ba ngày tết. Hổng có đúng!” Một cụ “thất thập cổ lai ... còn”, nổi tiếng bảo thủ, nhưng hôm nay bảo thủ rất hiện đại, góp lời: “Các cụ xưa nói ba ngày tết chỉ có tính chất tượng trưng thôi. Có nơi người ta ăn tết đến ra Giêng kia.”

Lời nói thoảng qua nhưng làm tôi nhớ đến một thời tôi có dịp đến thăm một làng nhỏ vào đúng những ngày vui đón tết. Làng có tên hơi lạ là làng Hy Tái, một làng ngày tôi đến thăm cách nay hơn hai chục năm và có nhiều mái nhà lợp rạ đúng cảnh thôn quê và chỉ cách xa bến phà Kiến An ( Hải Phòng ) chừng 3 cây số. Làng nhỏ nằm bên đường xe cộ chạy từ bến phà Kiến An đến cầu Rế.

Đến thăm làng vào ngày mồng một, mồng hai tết nhưng người ta chỉ thấy như ngày bình thường. Hỏi ra mới biết, dân làng thực sự “ăn tết” từ mồng mười tháng Giêng. Còn trước ngày đó, ai cày sâu cuốc bẫm thì cứ việc cày sâu cuốc bẫm. Ai chăm bón ruộng vườn thì chăm nom vườn ruộng. Còn những ai buôn gần buôn xa thì những ngày gần tết và sau tết thường tất tả gồng gánh, từ chợ Rế gần làng rồi rong ruổi đến tận chợ Dư Hàng, vội mải ngược xuôi trong những ngày tết đến.

Nguồn sống của dân làng là những vườn chanh, vườn cam và vài loại quả nhỏ như quất, quýt. Trước tết một tuần và sau tết một tuần, dân làng dành mọi nỗ lực vào việc trẩy hái cam, chanh và vài loại quả để kịp bán tết. Còn sau ba ngày tết, ai còn cần đến cam, chanh? Trả lời câu hỏi này, một dân làng cho biết là sau tết, các nhà hàng ăn uống và giải khát vẫn cần đến chanh, cam. Lúc này bụng thiên hạ đã “no ba ngày tết” với “thịt mỡ, dưa hành... bánh chưng xanh”, vậy thì một ly chanh mát, một ly cam sành nhẹ nhàng đưa đến mời khi này thật là đúng điệu. Còn quả quýt và quả quất, một loại tiên dược thiên nhiên trị ho nổi tiếng xưa nay, đúng vào dịp gió bấc mưa phùn ho húng hắng, chẳng giá trị sao? Nghe anh trai làng Hy Tái nói, vài cô vài cậu trong ngày thăm làng hôm ấy cứ ngẩn ngơ mãi, cái ‘suất’ nàng dâu, chàng rể ở đất Hy Tái này xem chừng thấy sao ... hơi khó!

Qua tìm hiểu thì biết thêm chỉ có vùng đất làng Hy Tái và vài làng gần bên, các vườn cam, chanh thường tươi tốt và mùa nào chanh, cam cũng trĩu quả đầy cành. Bước trên đường qua các lối xóm trong làng, bạn có thể đưa tay ra cũng chạm vào những quả chanh to và mọng nước. Còn cam và quả quất, quả quýt thì vàng rực trong vườn, sau nhà hay bên ang đựng nước. Nhiều người nói vùng đất này là do phù sa vun đắp. Còn cây cam, cây chanh ở các làng này quả thật đúng là những cây hái ra tiền. Vậy thì ăn tết sau thiên hạ, đâu có sao?

Nhưng nay... có thể lớp đất phù sa phì nhiêu mầu mỡ đã chẳng còn như trước, và có thể còn nhiều thay đổi trải qua vài chục năm nay ở nơi làng xưa gần một dòng sông uốn lượn. Những vườn cam, vườn chanh bên đường của làng Hy Tái xưa, nay rất có thể đã là những dãy nhà xây lợp mái ngói đỏ. Và anh trai làng Hy Tái ngày trước, nay bôn ba đến tới phương nào?

Những ngày này, ngồi nhớ về một làng xóm năm nào cũng “ăn Tết” sau thiên hạ. Tết năm nao cũng gồng gánh hai vai và Tết năm nao cũng hát bài có một câu như một người trong gia đình tôi vẫn hát và tôi không thể quên :

Qua Giêng, Đời ta sống yên lành...”

V V H P

**********************

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Vui Với Ba Ngày Tết


VUI  VỚI  BA  NGÀY  TẾT


 

  Ba ngày Tết nơi Xứ Lạnh là những ngày bình thường nếu ba ngày này chỉ là vài ngày đầu tuần. Nhưng năm nay, mồng một Tết Xuân Qúy Tỵ là ngày chủ nhật, nên bà con anh em họ hàng, ông bà cha mẹ con cháu rồi người thân kẻ lạ... đều ít nhiều mừng vui hớn hở. Vì ở nơi đây, vào cuối tuần có hội hè, lễ lạc... thì từ chiều thứ sáu đến đêm chủ nhật, người ta tha hồ nhảy múa hát ca và vui chơi thỏa thích.

Những ngày này, tuy rằng mùa xuân đang về trong rét lạnh, nhưng nhiệt độ ngoài trời không đến nỗi lạnh lắm. Tuyết có rơi lắc rắc như bột trải nhẹ trên đường, thế nhưng ngoài trời mức lạnh vẫn chỉ chừng 3, 4 độ C. May mắn nơi tôi sống là một thung lũng nhỏ, nên những ngày gió rét lạnh từ Bắc Cực thổi xuống đỡ tê cóng hơn các vùng trống trải không có đồi núi gần bên.

Nhớ lại vào dịp đón xuân cách nay vài năm, ba ngày Tết là những ngày đầu tuần và tôi vẫn còn làm trong một hãng nhỏ. Ba ngày tết năm đó gặp đúng một đợt rét chưa từng biết đến. Sáng sớm ra đến bãi để xe, tuyết cuộn bay trong gió lạnh và ổ khóa của chiếc xe tàng tàng bị đông đá không thể nào xoay nổi nửa vòng; tôi chạy vội vào nhà đun một bình nước nóng, đem ra giội nước nóng vào ổ khóa để tan lớp đông đá, và sau đó xịt tiếp một đợt dầu nhớt vào ổ khóa mới mở được. Chạy xe đến chỗ làm mất chừng hai mươi phút, và lúc ngồi vào trong xe một người bạn đỗ trước xưởng, chợt nhìn khung nhỏ báo nhiệt độ ngoài trời bên tay lái, con số hiện lên là 28 độ dưới không ngoài trời! Nếu biết trước lạnh rét đến mức độ này, chắc rằng hôm ấy báo nghỉ cho khỏe... Không ngở xương cốt một dân Á châu có sức chịu đựng đến vậy! Qua cơn thử thách, nhớ mãi một kỷ niệm những ngày Tết năm ấy.

Ai trải qua một đợt rét như trên, hiển nhiên bây giờ có sống ở ngoài trời những lúc lạnh 0 độ C, thì tay chân đâu còn run nữa, có thể lúc này còn nhoẻn cười và cảm thấy cuộc đời vẫn còn nhiều cái hay và may mắn.

Trở lại với chuyện Tết nơi Xứ Lạnh những ngày này, tuy trong nhà không có cành đào hay hoa mai vàng nở mừng đón xuân sang, nhưng thật sự với những ai từng sống qua vài dịp Tết Nguyên Đán nơi đây, rất ít người mang mặc cảm buồn thương và có nỗi buồn hiu hắt. Cái lạnh giá đến mức nước ở ngoài trời đóng băng đông đá người ta cũng quen dần, nên nỗi xa cách ly hương cũng theo ngày tháng dần dần phai nhạt. Ngày nay, nhiều người sống nơi đây dường như đón xuân, đón Tết vào những ngày cuối năm dương lịch. Người ta ăn mừng một năm mới cùng lúc trên bầu trời nơi đây rực rỡ những chùm pháo hoa muôn mầu. Người ta nâng ly chúc nhau một năm mới nhiều tốt lành, chúc một mùa xuân sống bên nhau thêm nhiều niềm vui và thêm nhiều nụ cười vui như hoa xuân tươi thắm...

05. 02. 2013

V V H P

**********************    

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Những ngày gần tết


Những ngày gần tết


 

  Những ngày này ở quanh vùng gần nhà tôi, đời sống vẫn ngày tiếp ngày êm ả. Nhà tôi ở gần một con đường nhỏ, xe cộ qua lại thường ngày không nhiều. Đây chỉ là đường nối liền vài xóm nhỏ gần bên. Khi chuyển nơi ở, chuyển đồ hoặc có việc cần thiết, xe cộ được ra vào. Nơi đây cách trung tâm thành phố chừng 1 km, dân cư thưa vắng, nhưng khoảng thiên nhiên rộng rãi nên cảnh sống cũng ít nhiều dễ chịu.

Quãng ngày này là ngày tháng đầu năm. Những bận rộn, háo hức đón mừng năm mới của dân chúng đã lắng dịu. Sau tết tây chừng một tuần, một đợt lạnh khủng khiếp ập đến với tuyết và gió mạnh. “Ngoài kia tuyết rơi rơi...”, ngồi trong chiêù vắng, tôi bỗng chợt nhớ đến bản nhạc nổi tiếng về tuyết và nhớ bài thơ của một bạn thơ, gồm vài khổ thơ tả oán lạnh mát da, mát xương. Thế nhưng đoạn kết bài thơ đọc lên nghe ra đã có ít nhiều hy vọng và một vẻ đẹp lung linh của tuyết.

Cái lạnh rét trong bài thơ Tuyết Đông Xứ Bắc Âu của Lê Dã Sử gần ngang mức với độ lạnh 10 độ trừ ngoài trời vài ngày trước. Những ngày rét mướt và lạnh tê mát da mát xương ấy mà ngồi mường tượng một chàng có tâm hồn thi sĩ, ngồi một mình và nhìn tuyết rơi ngoài khung cửa. Ngồi lặng lẽ và nhìn “ngoài kia tuyết rơi rơi...”, anh bỗng cảm thấy “trong băng giá tim anh tả tơi.” Và nỗi buồn dịu dàng thấm đượm tâm hồn kẻ mong đợi:

Không có em vuốt ve đêm này

Môi mắt anh xanh xao hao gầy

Tuyết vẫn rơi đầy trên cây

Giông tố như vô tình qua đây.”

( Trích một đoạn lời trong bản Tuyết Rơi )

Một tình khúc tuyệt vời và chắc chắn sẽ còn mãi sau nhiều mùa mưa tuyết.

 

Theo kinh nghiệm của nhiều người nơi đây, chính tiết trời giá lạnh đã làm trái tim thêm khỏe khoắn. Bằng chứng là từ trẻ nhỏ đến người lớn luôn khỏe mạnh dù nhiều khi thời tiết băng giá, và người cao tuổi thường có tuổi thọ cao. Tôi đã có dịp đến thăm một gia đình có bốn thế hệ, gồm ông bà, con cái, cháu và chắt sống gần nhau. Điều đáng nói là họ thể hiện tình thương yêu và quí mến nhau, vui vẻ sống với những gì gần nhà, gần xóm của họ.

Hôm qua rảnh rỗi, ngồi vài phút xem tiên đoán thời tiết vài ngày tới trên màn ảnh ti-vi, tôi được biết sẽ có đợt không khí nóng mới di chuyển đến vùng bán đảo Skandinavien ( Bắc Âu ). Lúc này, ngó qua cửa sổ, đã thấy những dải băng tuyết trên sân cỏ sau nhà mỏng dần và màu trắng của tuyết lẫn dần vào màu xanh sân cỏ. Hình ảnh dễ chịu của thời tiết hiện thời như hứa hẹn những ngày tốt lành sắp tới. Tiết trời lạnh khắc nghiệt dưới -10 độ C, cách nay nửa tháng đã lùi vào quá khứ. Tuy nhiên, ai đã sống chừng mươi, mười lăm năm nơi đây, hiển nhiên trong những ngày này chưa thể vui mừng quá sớm vì biết rằng Tháng Hai ở xứ Bắc Âu là tháng lạnh giá nhất. Với những kẻ hay lo xa thì vẫn cứ phải phòng thủ kỹ lưỡng từ đỉnh đầu đến tận gót chân, bằng tất cả những thứ có thể giúp thân thể chống cự lại cái rét mát da mát xương của mùa đông buốt giá.

Riêng tôi những ngày này bỗng hoài tưởng về quãng ngày sau tết tây và vài ngày gần tết ta cách nay nhiều năm về trước. Thời đó tôi còn nhỏ tuổi, và chỉ biết qua là tôi cũng có đông anh chị em; chừng độ chín, mười người. Ngày trước, như nhiều người biết, cha mẹ thường ước muốn sinh nhiều con (nhớ lời chúc “sinh năm, sinh bảy được vuông tròn”). Một lý do rất dễ hiểu là các bậc cha mẹ lo tính trước, ‘trừ hao’ nếu chẳng may con cái khó nuôi hoặc mắc bệnh hiểm nghèo. Khoa học và cách phòng bệnh, chữa bệnh thời đó, khỏi nói nhiều người cũng biết là còn nhiều lạc hậu nên mỗi khi xảy ra dịch bệnh thì con số tử vong rất cao. Vì thế, số gia đình nhiều con là chuyện thường; còn các nhà có ba, bốn đứa con thỉnh thoảng mới thấy. Bố mẹ tôi thường tránh nói đến vài anh em trong nhà đã mất lúc còn bé. Đến thời bận rộn làm ăn, thì bố mẹ tôi chỉ còn có năm người con, trên tôi có một chị, một anh. Hiện nay, anh em tôi chỉ còn bốn người. Một anh trên tôi đã mất từ vài năm trước. Vào những ngày cuối năm, dường như nhiều người hoài niệm về những người trong gia đình mình, bằng cách này hay bằng cách khác. Có thể đây cũng là một chia sẻ, một tâm tình rất ít thấy nhưng cần thiết chăng...

Nhưng thường là gần ngày tết, người ta tạm xếp những buồn bực vào một nơi chốn nào đó. Nhiều người trang hoàng nhà cửa để đón một năm mới, với ước mong rất đỗi bình thường là được hưởng yên lành, phước lộc. Những khuôn mặt vui vẻ hớn hở...  Năm mới chưa đến nhưng trong lòng đã cảm thấy vui vui. Cái không khí tết nhất, hội hè bừng sống lại. Tâm tính con người bỗng trở nên thanh cao, huyền diệu đôi chút...

   Những ngày cuối năm, bố tôi dậy từ sáng sớm và dọn dẹp nhà cửa. Ông lẳng lặng làm việc riêng của ông và quãng ngày này tưởng chừng chẳng ai có thể lôi kéo ông ra được khỏi nhà. Khi bàn thờ gia tiên và các lư hương đã gọn gàng sạch sẽ, tôi thấy ông lấy từ tủ sách nơi góc nhà ra vài cuốn sách cũ kỹ. Điểm đặc biệt của vài quyển sách này rất dày nhưng khổ sách có bản ngang hẹp, trông tựa chiếc gối đan bằng mây tôi vẫn thấy đặt nơi đầu giường. Tôi đã có lần tò mò lần giở vài trang xem, nhưng chỉ thấy những hình vẽ và chữ Nôm; một ngôn ngữ mấy anh chị em chúng tôi thật tình là một chữ bẻ đôi cũng không biết.

Một năm, chỉ những ngày giáp tết bố tôi mới đem những cuốn sách đó ra để trên chiếc kệ thấp.  Ông đun siêu nước nhỏ và tự thưởng cho mình một ấm trà ngon. Sau đó, ông thắp nhang vòng trầm thơm và đội nghiêm chỉnh trên đầu một khăn xếp. Chiếc khăn xếp này hình như chỉ được đội trong vài ngày tết. Trông ông lúc này thật đúng nửa quê, nửa tỉnh. Người trong nhà nhìn thoáng qua ông, nhưng chẳng ai dám cười. Sau lúc trải chiếc chiếu mỏng, ông  ngồi bắt chân chữ ngũ và đọc sách.

Còn mẹ tôi trong những ngày gần tết, việc nhà rồi hàng quán mua vào bán ra quay như đèn cù, may mà có vài người con cháu bà con họ hàng quê ở Hải Dương xuống giúp nên đỡ được mươi phần. Tuy vậy, thoảng hoặc bà rón rén bước vào nơi bố tôi ngồi đọc sách. Có một lần, tôi nghe tiếng bà kêu lên thảng thốt:

-“Trời ơi ! Cái nhà ông Kễnh này. Người ta thì bận bù đầu, việc ngập đến tận mắt, chạy ra chạy vào long cả tóc gáy. Còn ông Kễnh cứ bình chân như vại, ngồi nghiền mấy quyển sách này !”

Sau đó, tôi nghe tiếng ”Ông Kễnh” cười ha ha và “Ông Kễnh” nói giọng rất khoái chí:

-“Trời ơi, sách thế này mới đúng là sách !”

30. 1. 2013

Vân Võ Hoài Phương

**********************